HồNgọcCẩn Forum Index Ho Ngoc CanPortal
 FAQ  •  Search  •  Preferences  •  Usergroups  •  Register  •  Profile  •  Log in to check your private messages  •  Log in
Calendar 
View next topic
View previous topic

Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic
Author Message
muanuadem




Joined: 19 Apr 2009
Posts: 105

blank.gif
PostPosted: Sat Oct 31, 2009 6:35 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

QUÊN .


Trong truyền thuyết có một loại canh, sau khi uống xong có thể quên đi tất cả. Quên đi tất cả ưu phiền, quên đi tất cả mọi oán hận, quên đi tất cả những điều không vui và những thứ ở trong lòng muốn quên đi, đương nhiên nó bao gồm cả việc quên tình quên yêu ...

Quên đi được ưu phiền, cũng có nghĩa là đã không còn ưu phiền nữa, có thể làm xoá đi những nếp nhăn trên mí mắt, u sầu trên mặt. Những điều không công bằng và không vui vẻ mọi ngày đều theo đó quên đi hết, con người sẽ cởi mở hơn. Giống như bầu trời bị đám mây che kín, đột nhiên trong xanh trở lại.

Quên đi được oán hận , cũng có nghĩa là mọi oán hận đều đã bỏ qua. Biết quên thì cũng sẽ biết tự mình tha thứ. Tâm hồn sẽ không còn bị oán hận chi phối, tất cả mọi thứ trước đây trong mắt đều biến thành khói mấy. Tất cả đều cảm thấy nhẹ nhàng, tha thứ được cho người khác cũng là tự cứu thoát lấy chính mình.

Quên tình, quên yêu, cũng có nghĩa là quên đi tất cả những điều không vừa ý trong ký ức. Lúc tình yêu làm cho một con người đau khổ quằn quại, lúc nó làm cho một đoạn tình cảm nuối tiếc sợ hãi. Đột ngột quên đi chỉ còn lại thật nhiều những hạnh phúc.

Chưa có người nào có thể đạt được nó một cách thoải mái, chưa có người nào có thể quên như vậy ! ngày tháng đã từng yêu, từng thương, từng đau mãi mãi không thể biến mất, thời gian đã trải qua vẫn ở trong ký ức đau khổ. Có thể đau khổ càng rõ ràng hơn, có thể trái tim càng tan nát hơn, có thể yêu biến thành hận, tình biến thành oán ...

Đã từng yêu thì không hối hận, phân ly luôn có tiếc nuối. Từ lúc con người còn ngây thơ đến lúc tự mình có thể nhìn thấu trần ai, nhìn thấu xã hội, đó đều là lịch trình kế hoạch. Kỳ thực không phải vậy, đạo lý trong sách đã nói quá nhiều rồi, nhưng hiểu được thì rất ít. Oán trời trách đất, tự đáp, tự oán luôn là người hiểu biết, đại bộ phận con người là ích kỷ.
Đời người ngắn ngủi được mấy mươi năm, cần gì phải chống đỡ mệt mỏi như thế, người nào không học mà có thể quên ? Một mực đi tìm sự hoàn hảo, mà ở cái thế giới này, căn bản không có cái gì là hoàn hảo cả , trái ngược với nó là khiếm khuyết, vật có khiếm khuyết mới thực sự là thứ hoàn mỹ. Người đời càng làm thế, chỉ ôm được mối hận suốt đời, chẳng hề vui vẻ.

Lúc cuối cuộc đời sẽ đi qua năm ải luân hồi, trước lúc đi qua cầu Nại Hà làm người trở lại sẽ phải uống một thứ canh gọi là canh Mạnh Bà, sẽ quên đi ký ức của kiếp trước, kiếp này sẽ khởi đầu trở lại bằng vui vẻ. Lẽ nào cần tới lúc ấy mới có thể thực sự quên? Hạnh phúc là gì, hạnh phúc ở đâu, con người cứ đang phải khổ công sở hữu, tìm kiếm nó. Kỳ thực hạnh phúc đang ở giữa con ngươi, kỳ thực hạnh phúc đang ở trong cái người ta gọi là quên ấy.

Có một thứ tình cảm gọi là yêu, có một thứ tình cảm gọi là oán hận, cũng có một thứ tình cảm gọi là thương hại. Quên đi được tất cả những đau đớn đã khắc sâu trong lòng, quên đi được tất cả nỗi đau đã thấu vào tận nội tâm, đó chính là thứ hạnh phúc lớn nhất ...

Cho nên Có một thứ hạnh phúc gọi là quên.


   OfflinePersonal Gallery of muanuademView user's profileSend private message
dodom




Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

blank.gif
PostPosted: Sun Nov 01, 2009 5:07 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

“Văn mình, vợ người”

Huy Phương


Một nữ tác giả mới tổ chức “ra mắt sách” ở thành phố Houston đã can đảm nói về “văn mình: đáng để mọi người đọc, và có mặt trong mọi thư viện khắp nơi.” Trong cuốn sách này, bà cũng không quên in những câu “danh ngôn” đề tên chính bà, bên cạnh những tên tuổi của các danh nhân như Mahatma Gandhi, Albert Camus, Winston Churchill hay Ronald Reagan.

Nhưng nhân vật tiêu biểu nhất cho chuyện “văn mình” có lẽ chính là đại thi hào Tô Ðông Pha, người đã dám cậy tài, dám sửa thơ của Tể Tướng Vương An Thạch. Câu chuyện xẩy ra vào đời nhà Tống. Số là một ngày nọ Tô Ðông Pha, có việc phải đến thư phòng của Vương An Thạch, đọc thấy hai câu thơ của chủ nhân treo trên vách:

“Minh nguyệt sơn đầu khiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.

Tô Ðông Pha chê là vô lý, bởi vì: trăng sáng mà sao lại hót ở đầu núi, còn con chó vàng sao lại nằm trong lòng hoa được, bèn cậy tài, lấy bút sửa hai câu thơ lại là:

“Minh nguyệt sơn đầu chiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa âm”.

Nghĩa là: Trăng sáng chiếu ở đầu núi, chó vàng nằm dưới bóng hoa.

Khi chê thơ người (Vương An Thạch) là sai và nghĩ thơ mình là đúng, hẳn Tô Ðông Pha phải lấy làm tự đắc, ngạo mạn cho rằng người có địa vị hơn mình chưa chắc có tài hơn mình nên mới dám phóng bút sửa thơ người. Gọi là giai thoại thì câu chuyện chưa chắc có thật, nhưng đây là một bài học cho những kẻ “văn mình”, nhất là sau đó một thời gian, Tô Ðông Pha bị đày đến chỗ thâm sơn cùng cốc, mới tỉnh ngộ biết rằng “Minh Nguyệt” là tên một loài chim có tiếng hót rất hay, và “Hoàng Khuyển” là một loại sâu chuyên tìm ăn nhụy hoa.

Trong văn học sử Việt Nam, vào đầu thế kỷ XIX, Cao Bá Quát có tài ngay lúc còn ít tuổi nên có tính kiêu căng, ai ông cũng chê là học dốt. Ông nói: “Cả thiên hạ có bốn bồ chữ, anh Bá Ðạt tôi và ông Nguyễn Văn Siêu giữ một bồ, một mình tôi chiếm hai bồ, còn một bồ thì phân phối cho cả thiên hạ.”

Một câu chuyện “văn mình” khá phổ thông trong chuyện cười nhân gian Việt Nam là chuyện ba chàng thi sĩ làm thơ con cóc. Một chàng thấy một con cóc trong hang mới thò đầu nhảy ra nên lấy ngay đề tài ấy và “xuất khẩu thành thơ” ngay câu thứ nhất: “Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra”. Chàng thứ hai phụ theo: “Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó”. Chàng thứ ba bèn hạ ngay câu kết: “Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”. Làm xong bài thơ “con cóc” ba chàng thấy bài thơ của mình trác tuyệt quá, nghĩ tinh hoa đã phát tiết ra ngoài hết rồi, tài hoa như thế, chắc phải yểu mệnh, thế nào cũng phải chết, bèn ôm nhau mà khóc.

Chúng ta đã thấy nhiều nhà văn nhà thơ đầy lòng kiêu ngạo, mục hạ vô nhân, cho văn tài mình là nhất, không đọc, không biết, không thèm để ý đến sách vở, văn chương của người khác. Nhiều vị mới võ vẽ dăm bài thơ, đã muốn lăm le ngồi ghế thi hào. Tôi đã gặp một vị khách trong một phòng mạch nha sĩ, khi mới được chủ nhân tỏ ý giới thiệu, ông nhoài người về phía tôi, khiêm tốn đưa tay ra bắt và nói: “Tôi là ‘nhà thơ’ XYZ!”

Tội nghiệp cho tôi, tôi chưa hề nghe bút hiệu của ông lần nào cũng như chưa hề đọc thơ của ông. Tự gọi mình là nhà thơ, hẳn ông đắc ý lắm với những bài thơ ông đã làm.

“Văn mình” cũng chính là thơ mình, tranh mình, nghề mình, chức vụ mình, giòng giõi mình, con cái mình, khiếu thẩm mỹ của mình... nhất nhất mọi sự đều nhất, hơn tất cả thiên hạ. Ðó chính là lòng cự cao tự đại của con người.

Về văn, người cậy tài cho mình là nhất thiên hạ, nhưng trái lại nói về vợ nhà, thì lại cho là thua sút vợ người. Ðây chẳng qua là câu chuyện có mới nới cũ, cái gì lâu cũ rồi cũng sinh nhàm chán, như chiếc xe hơi cũ chúng ta lái mỗi ngày. Mỗi ngày lái “chiếc xe nhà” ra phố hay trên xa lộ chúng ta thấy có bao nhiêu chiếc xe đời mới, đẹp đẽ, lộng lẫy, đắt tiền chạy bên cạnh hay qua mặt mình. Chúng ta thật chưa biết máy móc nó hiện đại ra sao, ghế da hay vải có mềm mại không, tay lái và cần sang số có trơn tru không, nhưng chỉ cần nhìn cái body xe, và nhất là phần sau chiếc xe cũng thấy mê vì nước sơn bóng loáng, thiết kế mỹ thuật, bắt mắt, hai hàng đèn chớp khêu gợi và nhất là cái logo của hiệu xe đắt tiền cho biết đây là một loại xe hảo hạng. Rồi chúng ta thầm nghĩ, một ngày nào đó khi chúng ta giàu lên có tiền, có chức vị, thì chúng ta cũng có thể sở hữu một cái xe như thế! Cái xe cũ này, lúc mới mua ở hãng nó vẫn còn mới, chạy êm ru, ngồi vào cái xe thấy mát rượi, nhưng quả thật bây giờ sau bao nhiêu năm, nó đã bắt đầu... tả.

Nhật báo Al-Watan ở Saudi Arabia có cho biết một phụ nữ đã kiện ông chồng ra tòa để xin ly dị sau 17 năm chung sống sau khi khám phá ra ông này đã lưu giữ số điện thoại của mình trong cell-phone là “Guantanamo” tên một nhà tù nhốt khủng bố nổi tiếng của Mỹ ở Cuba. Quý bà nghĩ sao khi thấy quý ông memo số điện thoại của vợ là “Sư Tử”, “Bà La Sát” hay “Quản Giáo” nếu ông đã đi tù Cộng Sản về.

Vì chê vợ nhà nên người ta mới thích đổi món, nói theo tiếng lóng thời thượng “cơm” và “phở”. Vì chán cơm mới thích phở, nhưng theo quy luật “vợ người” thì “Vợ là... cơm nguội” của ta, nhưng là “phở tái” của cha láng giềng!!!

Nói chuyện chán vợ nhà, muốn tìm của lạ thì mới đây chủ nhân một hotel tại New York đã có sáng kiến bày trò thay vợ đổi chồng bằng cách cho những cặp vợ chồng nào muốn nhập cuộc tham dự trò chơi đến thuê phòng. Sẽ có cuộc bốc thăm để cho ông chồng lúc tối lửa tắt đèn, cầm một con số đến gõ cửa một mụ “vợ người”, và vợ mình cũng có một thằng cha khác đến ngủ qua đêm. Những cặp vợ chồng đang ở trong hotel này không chịu tham dự trò chơi đều phải dọn ra để khỏi có sự nhầm lẫn. Người ta lên án đây là một trò chơi vô luân, thiếu đạo đức và cuộc giao hoan trao đổi tập thể này là một thứ “cẩu hợp”.

Theo truyền thống đạo lý, lúc trẻ trung lấy nhau là vì tình, lúc về già sống với nhau, yêu nhau vì nghĩa. Nhiều ông quan có vợ trẻ đẹp, người ta nghĩ là “một vợ một chồng”, hóa ra bà vợ già đã được cho vào bảo tàng viện sau khi ông thăng quan tiến chức. Nếu y phục xứng kỳ đức, thì những vị này lại muốn có một người vợ xứng với chức phận của mình. Ðó là thói đời “giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ”. Bây giờ bà vợ quả đã già, răng rụng da nhăn, nhan sắc tàn phai, nhưng cũng đừng quên chúng ta gặp nàng, yêu nàng, lấy nàng về làm vợ lúc nàng còn xuân sắc, son trẻ, trinh tiết. Bây giờ cỏ bên này đồi đã khô cằn, héo úa, mà “cỏ bên kia sườn đồi bao giờ cũng xanh”.

Có gì mâu thuẫn giữa văn-thì-mình mà vợ-thì-người không? Chắc là không! Văn 100% là từ gan ruột, tim óc của mình, còn vợ, lúc yêu thương cũng chỉ mới là 50%, như ta thường gọi âu yếm là “một nửa của anh”, nhưng lúc hết tình hết nghĩa thì thành ra kẻ thù không đội trời chung. Cô người mẫu áo tắm Jasmine Fiore không những bị ông chồng giết, chặt bỏ vào vali, liệng thùng rác mà còn tàn nhẫn nhổ hết răng, cắt hết đầu ngón tay để cảnh sát khỏi tìm ra căn cước.


   OfflinePersonal Gallery of dodomView user's profileSend private message
ThienThu




Joined: 30 Oct 2008
Posts: 182

blank.gif
PostPosted: Mon Nov 02, 2009 5:46 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Gốc hư ngọn héo: Quần chúng u mê làm hư lãnh đạo

Nguyễn Xuân Nghĩa


Hai tuần nữa, Tổng Thống Barack Obama sẽ công du Châu Á và để dự thượng đỉnh Diễn Ðàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương APEC tại Singapore. Nhưng trong dịp này, dư luận Mỹ chú ý đến sự việc là lần đầu tiên ông Obama chính thức thăm viếng Trung Quốc và hội đàm với lãnh đạo Bắc Kinh.

Khi ấy, cả nước lại nói về Trung Quốc, cường quốc đang lên, một chủ nợ mới vượt Nhật Bản về số lượng công khố phiếu mua của Mỹ năm 2004 và sắp vượt qua Nhật về sản lượng để thành nền kinh tế thứ nhì thế giới. Nhiều người sẽ còn thêu dệt về thế lực Trung Quốc để khuyên nhủ Obama về cách ứng xử với Bắc Kinh, theo lối cương hay nhu.


Nhìn từ bên ngoài thì Hoa Kỳ cần một bài học lịch sử về thuở vỡ lòng.

Năm 1789, cách đây đúng 220 năm, Hoa Kỳ mới là đứa bé chào đời, vừa bầu lên vị tổng thống thứ nhất cùng Hạ Viện đầu tiên. Ngày 30 Tháng Tư, Tổng Thống George Washington nhậm chức để lãnh đạo một quốc gia son trẻ. Cuộc cách mạng cho độc lập và dân quyền đã hoàn thành mỹ mãn để từ đó, thế giới phải nghe nói đến một cường quốc mới nổi, sẽ trở thành siêu cường độc bá trong 200 năm sau... Cũng năm 1789 đó, một cường quốc Âu Châu đã rùng mình làm cách mạng vì những động lực tương tự như Hoa Kỳ, do các triết gia của thời Minh triết đề xướng. Các triết gia ấy là Voltaire, Rousseau, Montesqieu. Cường quốc ấy là nước Pháp.

Nhưng cuộc cách mạng Pháp đã như một con sông cuồn cuộn chảy rồi tự giam... vào ao máu. Cách mạng đưa vua Louis XVI lên đoạn đầu đài, xóa bỏ nền quân chủ, mở ra kỷ nguyên của máy chém lưu động, rồi... dẫn tới sự xuất hiện của Hoàng Ðế Napoléon.

Lý tưởng cách mạng tại Mỹ mở ra nền Cộng Hòa và trong năm 1789 ấy, Quốc Hội Mỹ còn đưa ra một loạt 12 tu chính án trong bản Hiến Pháp nóng hổi để bảo vệ quyền dân - Bills of Rights. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một chính quyền vừa xuất hiện đã quyết định cho dân giới hạn quyền hành của chính quyền! Cùng năm đó, lý tưởng cách mạng tại Pháp đã đưa tới bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền. Nhưng sau đó, nhân quyền là hài kịch. Nước Pháp bị xuất huyết và Âu Châu chìm trong khói súng vì thiên tài vĩ đại Napoléon.


Hai cuộc cách mạng, hai ngả rẽ khác nhau...

Anh hùng hào kiệt thì thời nào nước nào cũng có. Tại Hoa Kỳ, họ là những người nối tiếp ông Washington làm nên sự hùng mạnh của nước Mỹ nhờ quyền tự do của dân Mỹ. Tại Pháp, họ là các chiến tướng và chính khách đã tô điểm cho Ðế chế Napoléon. Bằng máu. Từ đó, nước Pháp - một cô đỡ có công cho cuộc Cách mạng Mỹ - cứ thế tuột hạng...


Vì sao lại có sự khác biệt ấy? Ban tham mưu của Obama có nghĩ ra chăng?

Bên kia bán cầu, siêu cường đích thực của cuối thế kỷ 18 là Trung Quốc, dưới sự cai trị của ông vua hùng tài Càn Long. Nếu so sánh, có lẽ ông chỉ thua tổ phụ là Khang Hy và đứng ngang hàng Hán Vũ Ðế hay Ðường Thái Tông. Càn Long lại sống rất thọ, trị vì suốt 60 năm và đưa Trung Quốc lên tột đỉnh uy quyền.

Thói thường, đỉnh cao nhất cũng lại là bước lật, dẫn tới sự suy sụp. Tại Trung Quốc đây là sự suy sụp kéo dài, mãi cho tới khi nhà Ðại Thanh tiêu vong năm 1911 và xứ sở lụn bại cho đến 1979...

Nếu đã tự hỏi vì sao lý tưởng các mạng thời Minh triết - Enlightenment - của Âu Châu lại dẫn tới nền độc lập và dân chủ của Mỹ trong khi lại đưa nước Pháp vào phiêu lưu sắt máu thì ta khó trả lời. Nhưng, nếu có hỏi vì sao vào cùng thời đại, Trung Quốc lại từ đỉnh cao lộn nhào xuống hố thẳm thì biết đâu mình chả có một giải đáp: “Tứ khố Toàn thư” của Càn Long.

Trên đỉnh cao chót vót, Càn Long muốn làm chuyện lớn là vượt qua trí tuệ của triều Vĩnh Lạc nhà Ðại Minh khi tổng hợp kiến thức đương đại để lập ra bốn kho sách vở có giá trị nhất - kinh, sử, tử và tập. Thế nào là “có giá trị” thì triều đình quyết định. Còn lại thì... trao cho bà hỏa. Ðốt hết. Từ 1773 đến 1782, sĩ đại phu nhà Mãn Thanh đã truy tìm, nghiên cứu và gạn lọc để trao lại cho hậu thế bốn kho quốc khố về kiến thức làm thế giới trầm trồ. Sau khi hủy diệt chừng 3,100 đầu sách và 150 ngàn cuốn không đáng giữ, căn cứ trên sự thẩm xét của triều đình.


Một vụ đốt sách vĩ đại nếu so với thời Tần Thủy Hoàng Ðế...

Khi ấy, Âu Châu tân tiến và Hoa Kỳ bán khai còn chưa biết gì về giàn hỏa thiêu kiến thức đó. Không, nói vậy là sai! Khi ấy, đỉnh cao trí tuệ của Âu Châu thời Minh triết vẫn còn gật gù vái tiên sư ở miền Viễn Ðông.

Trong một giai đoạn khá lâu, Âu Châu bị mê hoặc bởi bất cứ những gì xuất phát từ Trung Hoa. Sau Marco Polo, thì Columbus cũng muốn... tìm về Ðông phương và lạc đường qua Mỹ. Sau đấy, các nhà truyền giáo và học giả Âu Châu, đứng đầu là Voltaire, hết lời ca tụng một Ðế quốc anh minh ở rất xa. Tại đây, Hoàng đế cũng là thi sĩ kiêm Thượng đế ủy nhiệm, để “Thế thiên hành đạo”. Là nơi mà trí thức thấm nhuần đạo Thánh hiền bước ra làm quan để chăm lo cho bá tánh và nếu có lui về thì cũng làm thầy.

Tìm hiểu về khu vực xa xăm ấy, các giáo sĩ uyên bác của Âu Châu chỉ muốn mình cũng có một Hoàng đế kiêm Thượng đế như vậy thì... tiện biết mấy. Các triết gia Âu Châu thì mơ tới một môi trường “tiến vi quan, thoái vi sư” - đằng nào cũng ngất ngưởng ngồi trên. Vào thời ấy, người ta chưa có định nghĩa “tả-hữu”, cấp tiến và bảo thủ, nhưng các tay lý luận tôn sùng nền văn minh Trung Hoa đều thuộc “cánh tả”, như ta gọi sau này... Còn bá tánh Trung Hoa lầm than thế nào, sĩ phu chết chém ra sao, văn tự ngục là gì thì họ cóc biết. Và cóc thèm biết.


Sau đó bi hài kịch tiếp tục

Qua thế kỷ 20, hết Trung Quốc thì tới Liên Xô trở thành gương sáng. Không có Voltaire thì đã có Jean Paul Sartre. Ðể nhiệt liệt ca tụng chế độ anh minh, nơi mà mọi người đều làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu trong thế giới đại đồng, hiện đại hóa của chữ “thái hòa” Trung Hoa. Một bậc sư về khân khẩu học của Pháp, Alfred Sauvy, còn dõng dạc tiên đoán, rằng kinh tế Xô Viết sẽ phát triển đến độ sản xuất thừa bánh mì để phát miễn phí cho mọi người! Nhiều nhà kinh tế Mác xít Mỹ nhấp nháp lại điều ấy như chân lý mà không hiểu rằng nếu có dư thừa ngũ cốc thì người ta sẽ dùng để nuôi gia súc hầu ăn thịt nhiều hơn ăn bột! Và rằng kinh tế Liên Xô chưa hề ra khỏi khủng hoảng về nông nghiệp cho tới khi sụp đổ.

Trong khi ấy, Trung Quốc huyền bí dưới bức màn đen của Mao vẫn là sự mê hoặc lớn cho cánh tả. Cứ xuống đường biểu tình là phải giăng cờ đỏ, hình Mao Trạch Ðông ngự thay hình Stalin và Hồng Vệ Binh là lực lượng tiên tiến, cuốn Mao tuyển là kinh điển mới, còn có giá trị hơn “Tứ Khố Toàn Thư” của Càn Long!

Trong nhiều thập niên, trí thức thiên tả Âu Châu và cả Hoa Kỳ đã hóa dại như vậy... Họ luôn luôn tìm cách lý giải để bênh vực dự tính cách mạng hoang tưởng. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc mà nêu vấn đề về tội ác của Mao trong cuộc Ðại Văn Cách hay Bước Nhảy Vọt Vĩ Ðại chỉ là thiểu số, bị phê phán là phản động, không nhìn thấy trào lưu tất yếu của lịch sử.

Có người thức thời thì sớm nhìn ra trào lưu khác, của chủ nghĩa thực tiễn.


Năm 1967, khi Barack còn là chú bé lên sáu đang chuẩn bị đi Nam Dương - cha mẹ chú lấy nhau đầu Tháng Hai, năm 1961, chú ra đời đúng sáu tháng sau; khi cha mẹ ly dị năm 1964 rồi bà mẹ lấy chồng mới là du học sinh Nam Dương thì chú theo mẹ cùng cha dượng qua sống tại Jakarta - một chính khách Mỹ đã nói khác: “Nhìn trong viễn ảnh lâu dài thì ta không thể đơn giản để Trung Quốc nằm mãi ngoài cộng đồng các quốc gia, rồi cứ ở nơi đó mà nuôi dưỡng ảo tưởng, ôm ấp hận thù và đe dọa lân bang...”

Chính khách ấy là Richard Nixon, ông viết như vậy trong số Foreign Affairs Tháng Mười, năm 1967.

Năm sau, ông ra tranh cử tổng thống, đắc cử khít khao, rồi chuẩn bị kéo Trung Quốc ra khỏi thế cô lập. Ðáng lẽ, người Việt ta nên chú ý đến luận cứ đó của Nixon và kết quả là chuyến Hoa du năm 1972. Lẫn hậu quả mà Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu.


Vấn đề chỉ là viễn cảnh, tầm nhìn....

Ngày nay, Barack Obama đã thành tổng thống Mỹ. Ngày nay, Trung Quốc vẫn “nuôi dưỡng ảo tưởng, ôm ấp hận thù và đe dọa lân bang”... như Nixon muốn tránh thời xưa. Nhưng làm sao bây giờ khi Bắc Kinh đang là chủ nợ Mỹ? Chung quanh Obama cũng có lý luận hoang tưởng của cánh tả và đòn phép tráo trở của phe thực tiễn. Ông là tổng thống đòi hòa giải cả hai!

Như một cái đĩa rè, mà quay lộn chiều, phe bảo thủ Mỹ cũng học phép lý luận của phe cấp tiến thời Minh triết hay thời Mao: nức lời ca tụng Trung Hoa! Doanh gia Mỹ là lực lượng tiên phong trong trò tung hứng ấy. Một số truyền thông thiên tả được Bắc Kinh hà hơi lắp mỏ cũng hòa chung một điệu. Từ các cao ốc thương mại của Thượng Hải hay Bắc Kinh, Thâm Quyến, họ ca tụng phép lạ kinh tế Trung Quốc và đếm ra mối lợi của mình. Trung Quốc cực xuất sắc về khả năng xuất cảng dù bán chẳng cần lời, nhưng 60% số xuất cảng ấy là do các doanh nghiệp quốc tế thực hiện. Và doanh lợi thì các thành phần này đã nắm tận gốc! Cánh tả cũng vậy, họ có nhìn ra và giấu nhẹm nhiều chứng tật độc ác của chế độ Bắc Kinh, dưới câu hỏi về lẽ hòa hay chiến? Chẳng lẽ vì chuyện nhân quyền mà gây hấn với Trung Quốc?

Gây hấn với chủ nợ không là chuyện khôn ngoan. Hiển nhiên là Obama được khuyên như vậy. Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng không nói khác, “nhân quyền không thể là vấn đề chi phối quan hệ giữa hai nước...”


Khôn thì khôn thật, dù hơi thất đức. Nhưng để đi về đâu?

Bậc thức giả thường nghĩ xa hơn chuyện đạo đức vì biết Trung Quốc không thể xâm phạm vào quyền lợi của họ. Còn nạn Bắc Kinh đàn áp dân chúng hoặc uy hiếp lân bang thì là chuyện của ai khác. Vì vậy, nhân chuyến Hoa du của một nhà thơ cũng mơ làm hoàng đế, họ từ tốn khuyên Obama rằng đừng làm Trung Quốc phật lòng! Không gặp đức Ðạt Lai Lạt Ma lúc này thì gặp lúc khác, chứ đã tính làm ăn với nhau thì nói chi chuyện nhân quyền hay dân chủ?...

Là tay Chicago chính hiệu, Obama hiểu ngay ngôn ngữ đó... Với tài hùng biện trời cho và một đám tham mưu sắc xảo, thể nào ông cũng tìm ra vài câu danh ngôn của văn hóa Trung Hoa để điểm hoa cho bài diễn văn cao điệu. Và được truyền thông gà nhà tung hô vạn tuế.

Chính là quần chúng u mê ấy mới làm hư lãnh đạo và là trò cười cho đấng con trời ở Bắc Kinh. Quần chúng u mê đã đưa Cách mạng Pháp vào thảm kịch. Lãnh đạo kiểu Càn Long thì làm quần chúng u mê và đưa xứ sở vào lụn bại. Barack Obama chọn ngả nào? Bỏ gốc lấy ngọn?


   OfflinePersonal Gallery of ThienThuView user's profileSend private message
saohom




Joined: 26 Aug 2009
Posts: 41

PostPosted: Tue Nov 03, 2009 5:54 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

Cõi Chết Không Buồn


Xin thưa ngay cùng các bạn, tôi là một người đàn ông có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, từ lúc thiếu thời cho đến khi kể cho các bạn nghe câu tự chuyện có vẻ huyền bí này. Nhưng thực sự, tất cả đã xảy ra mà diễn tiến đúng như những gì tôi sắp kể, không hề có ý thêm bớt, đặt điều.
Các bạn tin hay không tin, cũng không phải là điều thật sự cần thiết, vì ý của tôi là chỉ muốn được có cơ hội nói ra tất cả những cảm giác khác thường của một người đã chết đi sống lại

trong một khoảng thời gian khá dài ngay tại xứ sở được tiếng là văn minh tiến bộ nhất này, mà đối với lý luận khoa học, chưa bao giờ có sự thừa nhận chính thức, cho dù chính mắt họ là những người đã có mặt bên cạnh tôi từ khi tôi được đưa vào bệnh viện cho đến khi tôi được các bác sĩ khám nghiệm chứng nhận đã sống lại và đã trở về sinh hoạt như bao nhiêu người bình thường...

Chưa hết, còn chính mắt bè bạn, thân nhân vợ con tôi là những nhân chứng sống nữa cơ mà. Tất cả, họ đã chứng kiến tận mắt và vẫn đang hiện diện nơi đây. Tôi chắc họ cũng chẳng ngại ngùng gì để sẵn sàng làm chứng cho điều tôi tự thuật về "một lần ra đi và một lần trở lại" của một xác chết hồi sinh, trở lại sống kiếp người bình thường...

Sáng hôm ấy là ngày sinh nhật thằng con út của tôi. Mẹ nó và con chị, cùng với cả các bác các anh chị cô chú trong gia đình nội ngoại của chúng tôi ở đây, từ cả tháng trước đã sắp đặt một chương trình vui chơi cho nó. Xem vậy mà tôi chỉ là một nhân vật phụ trong những dịp tổ chức như thế này trong gia đình cho nên tôi chỉ cần thi hành đầy đủ những gì mà vợ con tôi đề nghị. Quan trọng nhất là việc làm tài xế lái xe cho mẹ nó và hai cháu. Muốn đi đâu họ cứ việc nói, tôi chở đi ngay, còn bao nhiêu chuyện khác, mọi người đã sắp đặt toan tính đâu vào đó cả.

Nhiệm vụ "then chốt" của tôi chỉ có vậy, cho nên, cá nhân tôi, tự nhiên được nhờ ơn vợ con họ hàng, các anh các chị thương yêu "kẻ sĩ", đâm ra sung sướng, chẳng phải quán xuyến chuyện gì. Mỗi khi có hội hè đình đám trong gia tộc là tôi cứ lè phè, không bị mệt đầu óc tính toán này kia. Muốn đi đâu làm gì tùy ý với cái máy gọi (pager) phải luôn luôn mở (turn-on). Và như thế, bổn phận tài xế của tôi, nhất thiết, không thể lơ là. Lý do cũng dễ hiểu vì các con còn bé, vợ tôi thì suốt gần 20 năm làm bạn với màn ảnh computer ở sở cũng như ở nhà nên đôi mắt nàng có đẹp và quyến rũ thật nhưng lại bị cận thị quá nặng nề nên thời tiết và ban đêm mà bảo nàng lái xe đi đâu, kể như ... xúi trẻ con đi ăn cướp nhà băng ở đất Mỹ.

Lễ sinh nhật của thằng con tôi được mẹ nó, các bác các cô, các anh chị nó ấn định vào cuối tuần để cho mọi người trong nhà có thời giờ đến tham dự vui chơi ăn uống, đánh bài "mà chược", "xì phé", ca hát "karaôkê". Buổi sáng thứ bảy đó, giống như bao nhiêu vụ hội hè đình đám gia tộc chúng tôi đã làm như một thói quen không bao giờ thiếu ở xứ Mỹ này, điện thoại trong nhà gọi đi order thức ăn ở nơi chuyên làm thức ăn đãi tiệc, có lúc chuông reo inh ỏi của các chị em bạn gái trong nhà gọi đến từ những vùng lân cận, chẳng có lúc nào ngưng, đường dây cứ thế mà bận liên tục...

Dù tôi không có nhiệm vụ phải dậy sớm cũng không thể nào ngủ nướng thêm được với một buổi sáng rộn rịp như thế này, đành phải ra khỏi cái giường êm ấm. Định gọi một anh bạn thân, xuống cái quán quen ở khu Bolsa uống cà phê tán láo, cũng không thể xen vào "đường dây điện thoại đỏ" đang được vợ tôi và các cô em xử dụng liên hồi.

Tôi chẳng lấy thế làm phiền não về chuyện này giống như tôi đã từng không phiền não trước hàng trăm thứ chuyện xảy ra hàng ngày trên đất Mỹ, bèn ra phòng ăn cầm ly cà phê sữa còn ấm vợ tôi đã pha sẵn, rồi tôi lững thững với gói thuốc lá bước ra sân sau, chỗ cái bàn bằng nhựa trắng ngồi uống cà phê một mình, ngắm khung cảnh ẩn hiện qua làn sương mai ở dưới cuối chân đồi đang được ánh nắng đầu ngày điểm cho một màu vàng trác tuyệt.

Trước khi tới cái bàn nhựa kê ở góc sân, tôi đảo bước chân theo thói quen dọc theo con suối nhân tạo mà tôi đã mất nhiều tốn kém và công phu thuê mấy người "Landscaper" (thợ làm cây cảnh cho tư gia) đến xây dựng cho, từ ngay khi chúng tôi mua căn nhà giá cả khá cao nằm trên đỉnh đồi này, nên trong khuôn viên sau căn nhà chúng tôi có một khung cảnh tương đối sang trọng nên thơ và đẹp mắt với một hòn non bộ đầy màu sắc, các loại cây cảnh Trung Quốc xỏa tàng lá đó đây bên dòng suối quanh co nước chảy róc rách với lũ cá cảnh xanh trắng đỏ vàng, chung quanh khu vườn đầy hoa tươi rực rỡ.

Tôi bước trên những phiến đá gập ghềnh còn đọng ướt, trơn trợt sương đêm. Bỗng nhiên bàn chân trái của tôi vô ý bước lọt vào giữa hai cục đá, ly cà phê bên tay trái, gói thuốc lá và cái bật lửa bên tay phải của tôi bất ngờ bị hất tung lên trời, cả người tôi mất thăng bằng ngã ngang trên con suối nhỏ mà bờ suối không quá rộng, ở bên kia cũng có những cục đá xếp lô nhô lên như chờ đợi đón lấy các đầu của tôi sẽ đập xuống một cách vô tình chưa đầy một phút đồng hồ.

Tôi nghe một tiếng rầm thật to, thật vang động trong đầu tôi rồi không còn biết gì ở thực tại mà tôi vừa hiện diện nữa.


HỒN LÌA THÂN XÁC LẨN QUẨN BÊN VỢ CON

Người tôi ngay sau phút ấy không còn trọng lực nữa, tôi nghe nhẹ hẩng trong không gian, việc xê dịch, đi đứng khoan thai thật thảnh thơi dễ dàng, không còn chút trở ngại nặng nề cùng với một cảm giác lâng lâng hạnh phúc. Từ một khoảng 180 độ đằng trước mặt, tôi có thể nhìn rõ tất cả những gì hiện ra trước mắt.

Nhưng 180 độ phía sau lưng, mỗi khi ngoái đầu nhìn lại, tôi chỉ thấy một vùng sương trắng dầy đặc, không có bất cứ vật thể gì. Tôi còn nghe được rõ ràng mọi người đang nói chuyện với nhau lao nhao láo nháo hết sức ồn ào. Vợ tôi đang cuống cuồng trả lời những gì các ông bà Mỹ đến lập thủ tục, điều tra. Thường nhật nàng vốn là một phụ nữ có đầy nghị lực, không khóc lóc dễ dàng, nhưng giọng nói và tia mắt lúc này thì quá đỗi phiền muộn, trông thật là tội nghiệp. Hai đứa con của tôi thì vô cùng thê thảm, chúng quấn quít bên cạnh cái xác của tôi giống như lúc thường có tôi nằm ngủ và chúng thì lẩn quẩn ở bên hoặc xem video con nít, hoặc xoay quanh những món đồ chơi điện tử trong nhà. Giờ đây chúng im lìm không nói gì cả. Chúng cứ dán mắt vào thân thể nằm thẳng đơ của tôi đặt nằm trên một chiếc băng ca, sắp sửa được chuyển ra chiếc xe cấp cứu đang cùng đậu chung với xe cứu hỏa, xe cảnh xát, đèn chớp loang loáng trước sân nhà.

Tôi được chuyển vào một bệnh viện lớn, qui mô nhất ở gần nhà một cách khẩn cấp sau khi vợ tôi ký tên trên những văn kiện hành chánh theo đúng thủ tục bình thường. Rồi bốn năm vị bác sĩ nam nữ người Mỹ cùng với một nữ bác sĩ giải phẫu người Việt Nam bu lại chung quanh xác tôi. Tùy theo phương vị của từng người, họ đang làm những thủ tục khảo nghiệm. Sau cùng, trên tờ báo cáo y khoa sơ khởi, họ giải thích cho vợ con cùng các anh chị họ hàng trong thân quyến tôi nghe:

- Ông ta bị té đập mạnh đầu vào một viên đá nhọn. Tình trạng hôn mê tê liệt nặng nề nhưng chưa chết vì thân nhiệt vẫn còn, cho nên chúng tôi sẽ cho áp dụng những phương pháp cấp cứu hiện đại nhất để hy vọng giữ được mạng sống của ông ta.

Một hai ngày sau, hồn của tôi cũng chẳng cần ngó ngàng gì tới thân xác cũ của tôi vẫn còn nằm cứng đơ trong phòng hồi sinh với cả chục y sĩ, y tá suốt ngày đêm khám nghiệm, theo dõi, hết sức lo lắng, tận tình. Nhìn thấy vợ con tôi hằng ngày buồn phiền ủ rũ sa sút bên cạnh xác tôi, tôi cảm thấy ái ngại và thương xót họ tận cùng nhưng không thể làm hay nói gì hơn được.

Đã mấy lần tôi đến đứng trước mặt vợ và ôm lấy hai đứa con đầy yêu dấu của tôi để nói với nàng rằng tôi không có sao cả, tôi lúc nào cũng ở cạnh họ và có lẽ chỉ ít hôm nữa là tôi có thể trở về, nhưng thật là oái oăm, họ không hề nghe được những gì tôi đã nói, cảm được những gì tôi đã làm như là tôi đã ôm từng đứa con, xoa đầu, nắm tay và hôn chúng, giúp cho vợ tôi tránh suýt đi đụng phải một cái cột đèn trong khu parking lot của bệnh viện và giúp mở khóa phòng ngủ cho họ lúc trở về đến nhà. Có lẽ vì quá xúc động và còn đang bị ám ảnh về tai nạn chết chóc của tôi nên họ không hề để ý. Thậm chí, hai đứa nhỏ nhà tôi, khi vắng tôi trong những đêm đi ngủ, chúng cứ trằn trọc lăn qua xoay lại trên giường và không ngủ được, tôi đã ôm lấy chúng thì thầm với chúng bên tai như thường lệ thì dường như chúng chỉ cảm được ở trong lòng mà không hề biết tại sao mình đang được an ủi vỗ về, chừng đó mới chịu nằm im rồi chìm dần vào giấc ngủ cho đến sáng hôm sau, nhỏm dậy ngó quanh quất trong phòng, câu đầu tiên chúng hỏi mẹ là:

- Bố đâu?

Mẹ nó, lệ ướt lưng tròng trên đôi mắt mất ngủ, sưng vù và đỏ hoe vì thầm khóc đã mấy đêm, chỉ nhỏ nhẹ nói:

- Các con dậy sửa soạn tắm rửa ăn uống rồi vào với bố ở nhà thương, nhanh lên, mẹ đã hẹn với bác sĩ ở đó rồi!

Hai đứa con tôi lầm lũi rủ nhau đi vào phòng tắm. Thằng út còn bé, không thể với tay lấy được cái bàn chải đánh răng riêng biệt mẹ nó để ở trên cao nên đang cố gắng nhón gót lên lấy, nhưng bàn tay bé nhỏ của nó vẫn không thể nào với tới được. Cố nhưng lấy không được, cu cậu tức quá cằn nhằn. Tôi đứng nhìn nó mà phát phì cười, vội lấy cái bàn chải đưa dùm cho nó, nhưng hỡi ôi! Bàn tay tôi chỉ đặt vào không mà thôi, chiếc bàn chải bé nhỏ lọt qua bàn tay tôi như lọt vào khoảng không vô ảnh, tôi cũng chẳng giúp gì được cho con trai tôi dù chỉ là một việc hết sức bình thường như vậy.

Tuy thật gần gũi vợ con cùng tất cả mọi người thân thiết, chia xẻ với họ tất cả mọi điều, nhưng tôi không có cách nào tham dự và làm cho họ nghe, họ thấy được ý mình muốn gì. Tôi nản chí rời khỏi họ và bắt đầu một mình đi phiêu bạt khắp nơi với ý nghĩ tại sao hồn tôi không lợi dụng hoàn cảnh này để chu du mọi nơi, mọi chốn mà lúc sinh thời, mình từng mong ước được đặt chân đến hoặc trở lại những vùng đất cố hương mà đã gần 20 năm qua, vì lưu lạc và sinh kế, tôi đã chưa thể trở về thăm viếng lại. Nhất là cái làng Cồn Tròn hiền hòa bé nhỏ nằm cạnh ven biển thuộc Tỉnh Nam Định miền Bắc nước Việt Nam, nơi mà cho đến bây giờ bao nhiêu hình ảnh cùng kỷ niệm thời thơ ấu thần tiên vẫn còn in dấu trong tâm khảm của tôi.

Những kỷ niệm đẹp đẽ và êm đềm đến độ xót xa mỗi khi tôi hồi tưởng lại hoặc tiếc thầm cho quãng đời thơ dại của các con, các cháu của tôi ở nơi xứ lạ quê người, chúng đã đánh mất hẳn đi nhiều cơ hội được sống và trải qua những ngày tháng bé thơ, những hình ảnh thiên nhiên chân chất vẹn toàn, không hề vương vấn chút gì về những tiến bộ văn minh cơ khí, cho dù so với thời đại của tôi, đời sống vật chất của chúng tôi đầy đủ hơn rất nhiều. Nghĩ xong là tôi quyết định làm theo ước muốn.


ĐI VÀO CÕI CHẾT


Nhưng tôi quên chưa kể cho các bạn nghe về những giây phút đầu tiên khi hồn tôi rời khỏi thân xác. Nó thật là hữu ích và mang tính chất khác thường. Hữu ích, theo ý tôi suy luận, là để cho chính tôi hoặc các bạn, sau này nếu có một lần nào đó, trong giờ phút lâm chung hồn phải lìa khỏi xác, thì mình đã biết trước để không bị bỡ ngỡ và làm theo một số qui cách, hoặc chuẩn bị cho một chuyến đi vĩnh cửu, không vướng những phiền bận sau này về một chuyển nghiệp tái sinh.

Như đã kể cho các bạn nghe ở phần mở đầu câu chuyện có vẻ huyển hoặc này. Tôi bị mất trọng lực một cách tự nhiên, rồi gần như không còn cảm thấy bất cứ điều gì nữa. Nhưng thực sự không hẳn là như vậy. Có nghĩa là tôi vẫn còn có riêng ý thức của tôi, vẫn còn biết thật rõ rệt tôi là một thực thể đang bị một sức hút vô hình cuốn đi thật nhanh và thật mạnh, mạnh đến đỗi tôi tưởng không có gì có thể cản lại được. Trong tia nhìn mọi người mọi vật, tôi có thể thấy thấu suốt tất cả mọi thứ được che dấu bằng gỗ, bằng xi măng hay bằng các loại vải vóc y phục trên thân thể mọi người.

Ngay lúc bấy giờ, có khoảng 5 vùng hào quang màu sắc khác nhau với các luồng ánh sáng từ sáu cõi cùng phóng hiện ra ở quanh tôi và dường như vùng ánh sáng nào cũng có một sức hút riêng rẽ, như sẵn sàng để hút lấy tôi và cuốn vào, sau đó sẽ ra sao thì tôi không được biết. Tôi tự hỏi: "đây là những vùng hào quang và ánh sáng gì? Có nên hòa nhập vào nó?" Mãi về sau khi được sống lại, tìm đọc các loại sách thông thiên huyền bí, tôi mới có cơ hội hiểu được ý nghĩa của các hào quang và ánh sáng đó như sau:
-Luồng ánh sáng mờ là của Chư Thiên.
-Luồng ánh sáng màu lục mờ là của A-Tu-La.
-Luồng ánh sáng màu vàng mờ là của loài người.
-Luồng ánh sáng xanh mờ là của loài xúc sanh.
-Luồng ánh sáng đỏ mờ là của loài quỷ.
-Luồng ánh sáng xám mờ khói là của địa ngục.
Riêng tôi lại bay bổng, lửng lơ và thoát đi bằng một tốc độ siêu phàm, trôi ra một không gian biệt lập, chỉ có một bên là bóng tối mênh mông và một bên là dày đặc sương mù, cũng mênh mông không kém. Tôi chới với trong cõi không vô tận. Tuy không cảm thấy gì đáng lo sợ, nhưng cũng có hơi chút quản ngại về những giây phút sắp tới của mình.

Bất đồ, tôi như được một sức mạnh đẩy tới vòng bên ngoài chung quanh các vị Trì minh với vô số các nhóm Không Tiến Nữ (tiên giới). Nào là các vị Không Tiến Nữ của tám chỗ hỏa táng, Không Tiến Nữ của bốn giai cấp ta bà, Không Tiến Nữ của 3 nơi tạm trú, Không Tiến Nữ của 30 vị chí thánh cùng của 80 chỗ hành hương, rồi đến các vị anh hùng, nữ anh hùng, các thiên tướng, các thiên thần bảo vệ đức tin nam nữ, mỗi vị được trang sức với sáu món mang trên người: một tấm phướn to lớn hình như làm bằng da người, tàn che và cờ hiệu cũng làm bằng da người. Những vị này vừa đốt mỡ người cho khói bay lên vi vút, vừa mang vô số nhạc cụ và làm cho vang động thiên giới bằng cách khua, đập hay rung các loại nhạc cụ ấy cho chúng phát ra những âm thanh huyên náo, mạnh mẽ đến nhức óc đinh tai. Các vị này cũng nhảy múa theo các nhịp điệu khác nhau. Họ xuất hiện, dường như để nghênh đón những người vừa mới lìa đời, hiền lương hoặc tội lỗi.

Tôi nhìn thấy vô số con người đã có mặt ở nơi tụ hội này. Họ tuần tự đến đây trước tôi, sau tôi liên tục thật đông đảo, đủ mọi màu da sắc tộc, đủ cả giai cấp lớn bé già trẻ giống như một ngày hội cực kỳ lớn ở trên dương trần. Lần lượt, tất cả mọi người được các vị Thiên tướng nêu trên đón và đưa vào hai ngõ chính: cuốn hút lên không gian chín tầng hoặc lao sâu xuống 7 tầng địa ngục, để rồi sau đó sẽ như thế nào thì tôi không có cơ hội được biết.

Các luồng hào quang, ánh sáng vẫn liên tục chiếu sáng, nhã nhạc, âm thanh vang động cùng khắp cõi trời. Từng làn gió mát mẻ quyện theo hương thơm ngào ngạt tỏa rộng cùng khắp mọi nơi. Tôi đứng nhìn mãi, chẳng thấy ai ngó ngàng chi đến mình, cũng không hề bị cuốn hút vào các luồng ánh sáng ngũ sắc để đi sâu xuống hoặc đi lên một cõi nào đó của tầng trời, tôi đang ở cõi an nhiên tự tại vô cùng, bèn lang thang bồng bềnh xoay chuyển tâm thức về miền tục giới.

Bạn không thể nào tin được hiện tượng hết sức lạ lùng xảy đến cho tôi trong tâm thức như thế này. Đó là, mỗi khi tôi nghĩ đến bất cứ nơi nào, người nào dù còn sống hay đã chết, ở trần gian hay âm giới với ước muốn chân thành tôi muốn được giáp mặt hoặc được hiện diện nơi đó, thì chỉ trong vòng một "séc-na" ngắn ngủi là tôi đã được toại nguyện tức thì, có nghĩa là, nghĩ đến ai, nơi nào hoặc những ao ước về cảm xúc, ngay lập tức, tôi cảm nhận được liền một cách rõ ràng đầy đủ và trọn vẹn hơn cả lúc thường.

Như tôi đã kể cùng các bạn rằng lúc còn bình thường ở dương trần, tôi vẫn nuôi một ước vọng là được trở về thăm lại làng Cồn Tròn của tôi ở tận Bắc Việt, nơi chôn rau cắt rốn cùng những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi ấu thơ. Tôi cũng đã được về, chỉ trong khoảnh khắc. Nhưng tôi đã thất vọng não nề vì làng cũ còn, nhưng cảnh làng sau hơn bốn mươi năm dâu biển, chẳng còn chút gì là dấu tích năm xưa. Tôi đã cố gắng vận dụng tất cả tiềm thức để cố tìm lại một vài di tích, địa thế trong làng thì tôi đã làm được điều đó. Như con sông nhỏ chảy quanh trong làng ra một cái lạch lớn thì đã bị lấp bằng từ thuở nào.

Bên cạnh con sông nhỏ về hướng tây bắc, có cây đa gốc bự cả chục người ôm là cơ ngơi gia phả của cha mẹ tôi hồi trước với một ngôi nhà chính năm gian, có bàn thờ Thiên Chúa ngự trị trang trọng ở giữa nhà, hai bên là những phòng ngủ có cửa sổ nhìn ra cái sân lót gạch màu đỏ khang trang, gồm một cái bể lớn chứa nước mưa mát lịm dùng để ăn uống cho cả nhà quanh năm không bao giờ cạn, có những cây cau già cao ngất ngưởng, cạnh đó, là một dãy nhà ngang nối liền nhà trên với nhà dưới gồm có bếp, nhà kho, nhà cho các anh chị gia đinh cư trú, ở trong nhà và bên ngoài khu vực đó là chuồng nuôi heo thành giống như một cái hình chữ U. Sau dãy nhà bếp là một vườn cây xum xuê hoa trái quanh năm với một hàng rào tre trúc ngập lá vàng.

Chính ở hàng rào tre trúc này là thiên đường thơ ấu của anh chị em chúng tôi suốt thời kỳ thơ ấu với những giấc ngủ trưa hè êm đềm thơ mộng hoặc là chỗ trốn bắt chơi đùa, nghịch ngợm. Cũng là lối đi riêng biệt kín đáo để chốn tránh cha mẹ, do anh chị em chúng tôi tự làm lấy để có chỗ đi về nhà mỗi khi phạm lỗi, chúng tôi bị la mắng, có khi ôn bài học hay cùng ăn và ngủ chung nhau cũng chính ở nơi đây, dưới gốc cây sung thật sai trái năm nào.

Phía sau nhà là cái ao mênh mông của cha tôi nuôi và dụ bắt cá vào ao trong những mùa nước lũ hàng năm từ một cánh đồng ngay đó chảy vào. Đến thời kỳ di cư vội vã, cha tôi đã thả xuống ao biết bao nhiêu lư đỉnh thau đồng mâm bạc quí giá, là những tài sản mồ hôi nước mắt của gia đình và tài kinh thương của ông thì nay cũng chẳng còn, giờ chỉ là bình địa với một nhà máy chế tạo muối từ nguồn nước biển ở cạnh trong làng mọc lên.

Thậm chí đến ngôi giáo đường cổ kính với tháp cao, ngạo nghễ giữa bầu trời, nơi anh em chúng tôi và lũ trẻ trong làng leo lên đó đánh đáo bắt chim, nghe tiếng sáo diều, nay cũng đã thay đổi. Gác chuông đã bị sập từ năm nào và giáo đường thì tiêu điều hoang phế. Dân trong làng, cố nhiên, tôi không thể nào biết được một ai, thành ra xa lạ hết, chẳng bù với bốn chục năm xưa, niềm thân ái với tất cả mọi người trong làng đã trở thành một sợi dây thân tình gắn bó, không chuyện gì vui buồn sướng khổ xảy ra mà ở nhà này mà nhà kia không biết, để chia xẻ, ủi an. Bờ biển năm xưa bằng phẳng với những hàng thông chạy dài trên bãi cát trắng phau trải ngập lá thông khô sù sì, giờ bỗng mọc lên những cây cầu tân lập chạy xa ra ngoài biển dùng để tiếp nhận và chuyên chở hải sản...

HỒN VỀ THĂM SÀI GÒN

Ngao ngán trong lòng với giấc mộng về thăm quê cũ, tôi bèn nghĩ đến một quê hương thứ hai "Sài Gòn" thì ngay lập tức tôi đã đứng giữa bùng binh của chợ Sài Gòn có công trường Quách Thị Trang. Tượng Quách Thị Trang cũ nay không còn, thay vào đó là một cái "kiosque" với đầy khẩu hiệu mang những ý nghĩ kỳ cục ở chung quanh. Không khí bụi bậm, ồn ào và ngộp thở giữa ánh nắng chói chang của mùa hạ với những cơn mưa bóng mây ào xuống bất chợt... Đường phố nhà cửa cũ kỹ tiêu điều với phần lớn là xe đạp, xe gắn máy dầu, xe hơi chen chúc nhau bò qua lấn lại, nhớp nhúa ghê hồn.

Ngắm làm gì cái phố xá hỗn tạp và nghèo nàn tả tơi này. Tôi nghĩ đến con đường Trương Minh Giản khi xưa. Tìm mãi mà cũng không thấy tên đường nào như vậy, dù chính đây là cây cầu bắt ngang con lạch nước đen ao tù, nối liền Trương Minh Giản với đường Trương Minh Ký về hướng nhà thờ thánh Thomas, nhà thờ Tân Sa Châu, Lăng Gia Cả rồi đến khu phi trường. Tôi không thể nào lầm lẫn hay quên những địa điểm này được. Nhưng tên các con đường nay đã được đổi thành tên các chiến sĩ anh hùng của chế độ mới. Chính vậy mà tôi ngỡ đã bị lầm.

Căn nhà lầu của gia đình tôi xưa kia nay vẫn còn đó, nhưng kiểu cách, màu sơn căn nhà cũ nay đã thay đổi hoàn toàn. Nơi đây, cha mẹ tôi đã, cách nhau khoảng 3-4 năm thở hơi cuối cùng với một nguyện vọng được trông thấy mặt tôi lần cuối, nhưng tôi đã không về trong giờ các cụ lâm chung. Cha mẹ tôi, dù đã được ơn chết lành giống như người say ngủ theo như thư từ hình ảnh mà các em tôi gởi sang Mỹ cho tôi trước đây, dù sao, lúc về trời, các cụ cũng không khỏi ngậm ngùi vì không được thấy mặt tôi lần cuối, đứa con trai mà hai cụ thương yêu và đặt nhiều kỳ vọng nhất trong gia đình.

Ngay tức khắc, tôi đảo mắt đi tìm hình bóng hai cụ trong âm giới, nhưng nào thấy đâu. Tôi định bụng sẽ đi kiếm vị phán quan giữ sổ thiên tào để tìm ra cha mẹ sau khi thăm viếng gia đình các em các cháu của tôi.

Tôi liên tưởng ngay đến phía trong căn nhà thì thấy cô em gái của tôi, nay đã là một bà già thật sự với số tuổi trên 40 một vài năm gì đó, đang ngồi trên võng với một đứa trẻ còn phải ẵm trên tay. Tôi biết đứa trẻ này là cháu nội của Thư, cô em gái ngang ngược của chúng tôi ngày nào...

Cô Thư với đứa cháu nội, con của thằng cháu Thăng (con trai trưởng vợ chồng Thư) kháu khỉnh và đẹp như thiên thần đang đong đưa à ơi trên võng. Còn chồng của Thư, chú Thịnh thì đang mải miết với cái tiệm làm xe đạp ở gần khu Lữ Gia Phú Thọ. Chú Thịnh, lúc này trông cũng tươi tốt với cái hàm râu quai nón, đang "điều binh khiển tướng" trong phân xưởng chế tạo của mình. Thằng cháu Thăng thì giờ đây đã là một ông kỹ sư chuyên môn về trồng trọt. Vợ nó, một cô gái tuổi ngoài hai mươi cũng khá xinh đẹp và trẻ trung, cũng đang tíu tít bận rộn trong một ngân hàng.

Còn chú Khoa, em trai kế của tôi, có vợ đã sang Mỹ với tôi, đi cùng tàu với hai đứa cháu trai là con chung của Khoa, nhưng nay vợ Khoa đã bỏ nó đi lấy chồng khác người Hawaii, bỏ Khoa ở lại Việt Nam. Khoa cũng đã lấy một cô gái trẻ đẹp từ Hànội vào Nam. Hai vợ chồng Khoa xem ra cũng hạnh phúc, công việc làm ăn có vẻ là một anh nhà giàu với hai ba cửa hàng bán đồ điện tử, máy hát.

Tôi nhìn thấy vợ chồng chú ấy, nhưng cả hai lại rất vô tình, không đếm xỉa gì đến tôi lúc đó với tâm trạng thật nôn nao khó tả vì được gặp lại những người thân yêu.

Tôi liên tưởng đến người bạn thân, anh Nguyễn Đình Kính nhà ở số - đường Hai Bà Trưng - Tân Định. Giờ đây Kính đã nghiễm nhiên là một ông trung niên râu tóc bạc phơ um tùm, trông y như một ông tây mũi tẹt, anh đã lấy lại phong độ của một ông công tử khi xưa với cửa hàng gia truyền chuyên làm nệm da ghế cho xe hơi các loại.

Tôi nhớ lại tất cả kỷ niệm năm xưa với gia đình người bạn chí cốt này cùng hai cô em gái tên Hồng và Hạnh. Hồng thì đã đi tu ngay từ năm học xong đại học. Còn Hạnh thì nay cũng đã hết giận tôi, nàng vẫn giữ nguyên nhân dáng của một cô chủ nhà, tiểu thư và đài các, trên đôi mắt long lanh ngấn lệ thuở nào nay còn vương in nỗi buồn vạn cổ, thân thể của Hạnh chỉ hơi đẫy đà và vết sẹo trên lưng vì đạn pháo kích hồi Tết Mậu Thân nay chỉ còn lại một vết mờ trên tấm lưng tròn trịa, trắng mềm như tuyết, khiến tôi không dám để mãi tầm mắt âm lực có thể trông thấy thấu suốt mọi loại y phục che thân của con người trên thân thể lồ lộ của Hạnh.

Tôi nhìn Hạnh mà nghe tâm tư xao động với những kỷ niệm tình ái hiện về. Thôi, Hạnh ạ! Âu cũng là duyên mệnh phù du. Dạo ấy, tôi vừa mới ra trường quân sự, người ngợm đen như hòn than, đầu tóc nhẵn thín như vị sư, hướng đời chưa biết dọc ngang may rủi bởi chiến tranh sẽ như thế nào. Chỉ vì tội nghiệp Hạnh nên tôi làm tuồng, giả vờ cứng cỏi, từ chối hôn nhân với nàng theo lời đề nghị của cha mẹ tôi và gia đình của Hạnh. Nàng giận tôi, buồn riêng suốt nhiều năm tháng cho đến lúc tôi đến được Mỹ đã gần bốn năm. Kính báo tin cho tôi biết Hạnh đã lấy thằng Hoàng, con trai cụ Cử Phán, hắn là một luật sư, nay đang là cố vấn pháp luật cho nhà nước đương thời, nhưng hai vợ chồng Hạnh, Hoàng không sanh được đứa con nào hết.

Tôi và Kính đều hiểu rõ lý do tuyệt tự này từ lúc thằng Hoàng còn đi học. Nó ỷ nhà giàu, ăn chơi hoang đàng chi địa, bị bịnh và sẽ không thể có con. Nhưng nó dấu Hạnh, không cho Hạnh biết lý do này cho nên Hạnh chỉ buồn vì không có con mà không hề biết tại sao vợ chồng nàng lại hiếm muộn như vậy, suốt đời nàng cứ đi hì hục khấn vái, mà trời đất lại chẳng động tâm. Tôi nhìn thằng Hoàng dâm tặc đang ngồi trong văn phòng riêng tại tòa án với đám nữ thư ký xoắn xuýt hai bên, đã biết hắn từng làm cho Hạnh khổ sở thật nhiều. Tôi trừng mắt nhìn hắn, tiến lại định cho hắn cái tát nên thân, song khổ nỗi, tôi vốn chỉ là một hồn ma vô hình, tôi không thể nào làm được bất cứ chuyện gì cần đến dương lực của một con người trên trần thế.

Tôi tiến lại chỗ Hạnh đang ngồi hong nắng. Tấm thân Hạnh trắng ngần, gương mặt êm đềm với đôi mắt đen đậm buồn suốt kiếp. Cô người ở từ trong bưng ra một tách trà nghi ngút khói, đặt trên chiếc bàn lim bên cạnh cây đàn dương cầm của Hạnh, rồi khép nép bước vào nhà trong. Tôi đứng trước mặt nàng, lòng rộn lên bao nhiêu là xúc động. Bỗng Hạnh có ý đứng lên. Tôi tự chế không dám động tĩnh gì, bèn đến bên Hạnh thì thầm nho nhỏ:

- Chào Hạnh anh đi. Rồi tôi hôn nhẹ lên mái tóc Hạnh ướp đẫm hương trầm của tôi ngày nào.

PHÁN QUAN CÕI ÂM NÓI CHUYỆN QUẢ BÁO

Rồi tôi nghĩ đến việc phải đi tìm cha mẹ.

Bỗng một vị phán quan hiện ra trước mặt, sửng sốt ngó tôi:

- Tại sao anh còn ở lại chốn này? Số của anh chưa đến ngày đến tháng, chỉ là một sự lầm lẫn của người giữ sổ thiên tào mà thôi. Hãy mau trở về, vợ con anh và mọi người đang bấn loạn vì không biết phải xử trí ra sao với cái xác của anh vẫn còn hơi nóng.
Tôi khúm núm trình rõ sự tình cùng ước nguyện truy tìm tông tích của cha mẹ. Vị phán quan già chậm rãi nói với tôi:
- Người cha già mà anh đang đi tìm đó chính là thằng con út của anh bây giờ. Ông già của anh trong giờ chết, vẫn còn quá nhiều luyến ái vì chưa được gặp anh. Sau khi cứ lần lữa mãi không chịu đi, thiên tào đã cho ông ta đầu thai làm con trai của anh để cho thỏa lòng thương nhớ.
Tôi ra vẻ không tin. Vị phán quan ôn tồn:
- Anh hãy trở về nhập lại thân xác rồi xem kỹ trên cánh tay phải và chỗ thiên căn trên đỉnh đầu của con anh, sẽ có in những dấu tích của cha anh khi còn sinh tiền. Còn bà mẹ anh, nhờ hiện nghiệp suốt đời khổ hạnh và chay tịnh, bố thí làm phúc nên bà ta đã thoát ra khỏi vòng luân hồi tử sanh, hiện bà ta là tiên nữ ở cõi thứ sáu của tầng trời. Anh không còn cơ duyên gặp lại nữa.

Tôi muốn nhân cơ hội hy hữu này nấn ná trò chuyện với vị phán quan để tìm biết thêm về một số điều bí ẩn của con người còn tồn tại ở trên dương thế. Vị phán quan bắt tôi phải hứa không được tiết lộ qui luật nhà trời và ông đã cho tôi được biết riêng rất nhiều điều hết sức quý báu. Những điều đó thật ra, khi còn tại thế, không những tôi mà muôn triệu người khác đã thấy, đã đọc nhan nhãn trong các bộ kinh Phật, kinh Chúa cả rồi. Chỉ có điều là con người quá ư là ngạo mạn, miệt thị cả thánh thư cho nên rất nhiều người có đời sống mà xem như đã chết, có đọc đó mà chẳng hiểu biết, mở mang được điều gì cho phần tư duy thánh thiện rồi cứ như một dòng sông chảy xiết chẳng có lúc ngừng để gạn lọc cho đến ngày tận số về trời, lãnh lấy những nghiệp báo của đời sau.
Chỉ sang những cửa ngục đọa hình, vị phán quan phân giải cho tôi thấu hiểu từng loại tội phạm với những khổ hình đau khổ, kể sao cho xiết. Tôi nhận được nhiều khuôn mặt nhân dáng thân sơ. Tôi nhớ ra được rõ rệt từng thành quả của họ đã tạo nghiệp ở đời. Có người tôi ngỡ ăn ngay ở lành, thì tại nơi đây, họ đang cam tâm thọ án. Chả là vì khi còn sống, những người này quá khôn khéo che đậy những tội ác của họ mà thôi.
Lại có những người trước đây tôi có định kiến, xem họ là những người xấu, ở nơi đây họ lại là những hồn lành, hưởng phước đời đời nếu họ không còn trong vòng tử sinh tái kiếp, chỉ vì họ là những người trung trực không hề gian dối che lấp những ý nghĩ và hành động thật sự trong lòng.
Nhưng đa số những vong hồn khi còn sống là những kẻ thất thế nghèo nàn, sa cơ lỡ vận, thường bị những hàm oan thống khổ, khi về trời, họ lại được đền bù và an ủi bằng tất cả ân phước của đấng tối cao.

Vị phán quan nhìn tôi chằm chằm:

- Thấy rồi thì nên sám hối, không được tự dối chính bản thân ngươi. Nếu không ngục tối cực hình dành cho nhà ngươi không phải là điều không thể có. Hãy mau quay gót trở về.

Lòng tôi cảm động bồi hồi. Hứa với phán quan sẽ quay về nhập xác, trở lại dương trần cam tâm đền trả cho hết kiếp phàm nhân sau khi cố nài nỉ xin được ít phút giây tìm lại những người quen biết đã lìa đời. Phán quan vui lòng chấp thuận. Tôi cúi đầu lạy tạ để đi ra.

Hồn phách tôi siêu thăng đến khắp cõi ta bà, lâng lâng thanh thản, nhẹ nhàng tựa như sương khói không chút vướng bận suy tư. Trong suốt khoảng thời gian này, tôi không hề còn lại chút gì thuộc trạng thái vui buồn khổ ải, ưu tư của suốt bằng ấy năm tháng đằng đẵng với kiếp làm người, cũng không hề bận tâm về con đường sinh, lão, bệnh. Chỉ có mỗi một niềm thanh nhẹ hân hoan vui vẻ tận cùng. Liên tưởng đến đâu, nơi đó đã hiện ngay ở trước mặt rồi. Ao ước điều gì hạnh phước gì nó đã xảy đến ngay trong tiềm thức hư vô. Ngôn ngữ và cảm giác nơi đây là ngôn ngữ và cảm giác được kinh qua bằng một cách thức vô hình. Chỉ cần có sự ước ao đã hẳn nhiên biến thành sự thật tức thì.

Tôi đã gặp được hầu hết những người quen biết thân sơ, cả những cá nhân tôi chỉ nghe tăm tiếng của họ lúc sanh tiền mà chưa bao giờ có cơ hội thân thiết. Tất cả đều có mặt nơi đây.
Nhưng tùy theo mệnh nghiệp của từng người. Ở chốn này, có người thì quằn quại thọ phạt khổ hình. Sau đó, sẽ bị đọa làm kiếp tái sinh, tùy theo phước báu, công tội lúc sinh thời.
Có rất nhiều người khi sống, phải cam chịu nghèo khổ lam lũ nhọc nhằn, hoặc từng bị những hàm oan đố kỵ, nhưng vẫn nhất mực cam tâm, không kình chống lại hiện nghiệp mệnh trời. Nay họ là những chư liệt vị thuộc giới chư thiên cao cả, hạnh phúc tột cùng, bay bổng nhẹ nhàng với thiên đường trăm hồng nghìn tía, nhởn nhơ nhàn nhã ung dung, đàn ca múa hát đúng thật là cảnh giới viên mãn siêu thăng tịnh độ của cõi Thiên Đường.
Có những vong hồn nam nữ dung mạo no đầy rượu thịt, thú tính dâm ô, mưu thần chước quỷ, hãm hại đồng loại chúng sanh để thu tóm bổng lộc uy quyền, vơ vét cái ăn cái mặc, cùng bao nhiêu danh lợi vốn là của chung đem về cho riêng mình, cùng những tật xấu xa đê tiện, ngôn khẩu giết người, dèm pha đố kỵ, lợi dụng trí lực, hành hạ đồng loại, họ đang bị quằn quại bi thương, bị banh da lóc thịt, rên xiết kêu khóc đêm ngày, ăn uống thì được cho ăn như loài ngạ quỷ, toàn là thịt hôi thúi máu thiu, diện mạo kinh khiếp khác hẳn lúc thường...Thân thể thì lõa lồ ngày đêm dòi bọ đục rữa, nhất là với những vong hồn có tiền kiếp dâm ô, đĩ điếm, dối gạt quanh co.
Phán quan cho biết, của cải thực phẩm cùng hạnh phúc là của chung nhân loại. Tại sao xảy ra cảnh kẻ giàu người nghèo? Tại sao có nạn người uy quyền kẻ nô lệ. Những người này đã dùng mưu thần chước quỷ, phế bỏ luật trời, nên bây giờ sau khi chết, họ phải trả quả và sẽ bị đọa vào hậu kiếp tái sinh, họ sẽ phải làm loại súc sanh đê tiện, làm thân trâu ngựa hùm beo rắn rít vì những tội lỗi tham dục tàn nhẫn tạo nghiệp trên đời.

TRỞ VỀ NHẬP XÁC

Trước bối cảnh kinh hoàng như vậy, hồn tôi bỗng lạc vào một vầng sáng màu vàng nhạt mênh mông lai láng. Tai thoáng nghe những âm thanh quen thuộc của mấy chục năm làm người. Tôi lại nhìn thấy xác của tôi trong một căn phòng hồi dưỡng với năm sáu người mà tôi đã trông thấy họ ở thế giới bên kia. Họ đã chết thật rồi vì tôi đã thoáng nhìn thấy họ bị cuốn sâu vào từng luồng ánh sáng vô biên, đi mãi ngàn năm và không thể trở lại được nơi này, còn tôi thì tự nhiên bị đẩy bật ra khỏi sức hút của những luồng ánh sáng đó, đi phiêu bạt đó đây rồi được phán quan khuyến cáo phải trở lại gấp nơi này để nhập xác.
Nhưng tôi tự tìm mãi mà không thấy được cửa sinh tử môn nằm giữa đỉnh đầu thì làm sao tôi có thể nhập vào thân xác? Đợi mãi cũng chẳng làm được gì vì cửa sinh môn đang bị bịt kín bởi một cái nón có trang bị những dụng cụ duy trì sự sống cho cái xác của tôi. Tôi nhìn thấy một cái cửa phụ nằm ở kẽ xương quai hàm bên vai trái, tuy nhỏ và rất đau đớn khi hồn tôi nhập vào, nhưng còn cách nào hơn cơ chứ!
Nắng ngoài sân bệnh viện đã lên cao. Hàng ngàn tiếng lao xao báo hiệu một ngày làm việc tất bật của khu bệnh viện lớn lao này. Vợ và hai đứa con của tôi thì đang ngồi đợi chờ ở "front-desk" trong bệnh viện, họ đến để tiếp tục kiên nhẫn ngồi canh bên cạnh cái xác còn nóng hổi của tôi.
Dường như hôm nay là thời hạn chót để các vị bác sĩ chuyên khoa về tử thi họp bàn quyết định về số phận của cái xác không hồn này. Chính nhờ vào những tiến bộ của khoa học mà ngoài nhiệt độ duy trì cho cái xác thoi thóp sống, nó còn không bị thối rữa như những xác chết bình thường sau chừng 5 ngày cho đến hơn một tuần lễ.
Xem lại lối vào chỗ khớp xương quai xanh một lần nữa rồi tôi vận hết sức, dùng nội lực để len vào. Một cảm giác đau đớn tận cùng tỏa khắp hồn tôi trong một khoảnh khắc nhanh chóng. Thoát nhiên, cảm giác đau đớn đó chuyển động và chạy ran khắp cái thân xác đang nằm bất động ở trên giường.
Trạng thái đầu tiên tôi ghi nhận được khi hồn tôi trở về với thân xác cũ đã nằm bất động gần trọn một tuần là cơn buồn phiền ngột ngạt và còn có một sức nặng nề ghê hồn trì kéo nặng nề trên toàn thân thể. Tôi như bị kềm hãm trong một cái khuôn không cách thoát ra được. Sau đó là xúc giác đau đớn trĩu nặng ở trên đầu, phía sau ót. Tôi nhớ lại rồi. Điều này không có gì là khó hiểu. Đó chính là vết thương sau sọ chưa thực sự lành lại sau khi được các vị tây y chữa trị và khâu lại vết nứt bên ngoài.
Sức trì kéo nặng nề tôi vừa kể vẫn bao phủ trong toàn thân tôi. Ngoài sự đau đớn ở vết thương trên đầu, tôi cảm thấy toàn thân như rũ liệt, rồi cơn đói bổ đến cồn cào. Bao tử của tôi hoàn toàn trống rỗng sau nhiều ngày được các y sĩ tẩy uế. Thân thể của tôi chỉ được dinh dưỡng bằng những phương thức vật lý y khoa trị liệu cho nên giờ đây nó bắt đầu làm việc với những đòi hỏi cấp bách nêu trên.
Ngước đôi mắt mệt mỏi nhưng vô cùng tỉnh táo nhìn lên trần phòng với những hộp đèn néon trắng dịu, tôi vẫn nhớ như in chuyến hành trình thần tiên vừa qua từ cõi âm đầy khác lạ trở về. Linh hồn tôi không có dấu hiệu hoặc dư vị nào của thương tích, vẫn mạnh mẽ bình thường. Nhưng cái xác của tôi thì thật sự yếu đuối, bởi nó bị thương và bất động đã mấy ngày qua. Vận dụng nghị lực, tôi cố nhổm người lên, đảo mắt nhìn chung quanh căn phòng hồi dưỡng im lìm với những thân người nằm ngay đơ bên trong làn vải trắng. Hình ảnh này tôi đã thấy ban nãy khi tôi trở về, nên không lấy gì làm lạ.
Tôi còn có thể đoán chắc, có hai cái xác, một ở cuối phòng là một cô gái người Mỹ và một là người đàn ông gốc Do Thái đang nằm cách tôi hai xác nữa. Cô gái Mỹ bị lăn té trên thang lầu và người đàn ông Do Thái thì bị nghẽn mạch máu. Họ bị "chết giả", bị hôn mê, và họ cũng sắp sửa "trở về", sắp sửa hồi tỉnh giống y như tôi vừa mới hồi tỉnh. Tôi từng nhìn thấy họ ở thế giới bên kia. Cơn đói trần gian khiến tôi vô cùng khổ sở và liên tưởng ngay đến thói quen bó buộc phải ăn uống của người trần. Tôi mong vợ con tôi thật chóng trở vào để giúp tôi trở về nhà cũ. Mùi nhà thương khiến tôi ngộp thở lắm rồi, lại còn bị hành hạ bởi những cơn đau đớn và cái đói kỳ khôi.
Ngay lúc đó, ổ khóa lách cách kêu lên. Cánh cửa phòng hồi dưỡng mở ra. Tôi thấy bóng dáng vợ tôi ủ rũ và rất mệt mỏi bước vào, đi cùng với người gác nhà thương và một hai gia đình người Mỹ khác. Tôi cố gắng nhúc nhích để cho vợ tôi biết rằng tôi đã hồi tỉnh, đã "trở về" mới đúng. Quả nhiên, nàng nhận ra ngay và òa lên khóc um sùm vì quá mừng rỡ khiến người gác phòng hồi dưỡng hiểu ra ngay rằng có một xác chết đã năm sáu ngày nay bỗng hồi sinh.
Ông ta chụp lấy cái điện thoại ở trên tường và thông báo ngay lập tức cho vị y sĩ trực hôm đó là một nữ bác sĩ người Trung Hoa. Bà ta cùng bốn năm vị bác sĩ đàn ông khác xuống tận chỗ, khảo nghiệm lại "tử thi" hồi sinh của tôi rồi ra lệnh cho y tá đẩy chiếc giường của tôi trở lại phòng cấp cứu hôm nào để làm không biết bao nhiêu là thử nghiệm khác để xác nhận rằng thể xác của tôi đã hoạt động lại hết sức bình thường, ngoại trừ vết thương trên đầu cần được tái khám đúng hẹn và phải uống thêm thuốc trong một vài ngày nữa ở nhà thương.
Đợi đến lúc không còn ai hiện diện, tôi nói quả quyết với vợ tôi:
- Anh không có sao cả. Chỉ hơi nhức đầu và mệt mỏi mà thôi. Em cố gắng tìm đủ mọi cách đưa anh về nhà, khung cảnh và mùi vị nhà thương làm cho anh sợ lắm. Đi đi em! Đi tìm bà bác sĩ người Tàu năn nỉ bà ta chắc sẽ có kết quả.
Cuối cùng vợ tôi đã đạt được sự thành công với điều kiện nàng phải ký giấy cam kết, chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc này. Tôi gật đầu ra dấu cho nàng cứ ký giấy cam kết. Sau đó, vợ tôi dìu tôi đứng dậy khoác hai tay tôi lên vai hai cô y tá đỡ tôi ngồi lên chiếc xe lăn, rồi đẩy tôi ra xe đã được nàng lái đến đậu sẵn tại cửa chánh bệnh viện để trở về nhà.
- Thật là một phép lạ vô thường vì lời khấn nguyện van vái thần linh Chúa Phật liên tiếp nhiều ngày đêm của em và hai con cho anh được thoát khỏi tai nạn ngặt nghèo và quả là linh hiển. Em đã được các vị thần linh nhận lời, anh đã hồi tỉnh.
Tôi im lặng nhìn dáng vẻ của vợ tôi nghiêm trang thành khẩn kể lại những gì mà nàng đã tận sức để níu kéo lại đời sống của người chồng đầu ấp tay gối. những ý nghĩ của tôi thì giữ kín trong lòng không nói gì với nàng cả. Tôi không nỡ làm tiêu tán đức tin thánh thiện của nàng đối với các đấng bề trên. Bởi tôi đã bị chết đi và sống lại một cách tình cờ, không phải vì thượng đế không linh hiển mà chỉ vì định mệnh cuộc đời của tôi chưa đến lúc phải ra đi. Thần linh không hề can dự vào số phận của một đơn vị quá bé nhỏ là tôi.
Đó chỉ là một tai nạn bất ngờ để cho tôi có một cơ hội bằng vàng đi về bên kia thế giới, thăm thú, và tìm hiểu xong rồi lại được trở lại trần gian để đi hết kiếp người.
Tôi thầm cảm tạ ơn trời ở điểm, số tôi chưa đến, còn được sum vầy đoàn tụ với vợ con để mà kiểm chứng thêm những hiểu biết về cõi âm luôn luôn mang tính cách bí mật muôn đời. Ngoài điều này ra, cõi phàm trần thực chẳng có gì đáng để cho tôi cần phải luyến tiếc đến nỗi chuốc lấy ngàn vạn khổ đau. Vì có mấy ai chịu chấp nhận một sự thật là cuộc sống chính là con đường đang được rút ngắn để trở về, trở về chốn quê hương vĩnh cửu, xóa sạch những vướng vít, nợ nần với thế gian.


   OfflinePersonal Gallery of saohomView user's profileSend private message
saohom




Joined: 26 Aug 2009
Posts: 41

PostPosted: Wed Nov 04, 2009 5:55 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

SỐNG THÊM MỘT NGAỲ


Sống thêm một ngày, bạn sẽ biết rằng trên thế gian này vẫn có một người nào đó yêu thương mình.

Đôi khi những áp lực cuộc sống, những thất bại lắm lúc làm đôi chân ta bỗng dưng chún bước. Ta muốn buông xuôi tất cả và tự hỏi “Ta sống để làm gì?
Liệu cuộc sống của ta lúc này có là vô ích?” Nếu vậy thì bạn ơi, xin nghe tôi nói: Nếu như có lần nào đó bạn muốn giã từ cuộc sống này, hãy nghĩ rằng chỉ cần sống thêm một ngày nữa thôi, bạn sẽ biết cuộc sống của chúng ta có những điều kì diệu như thế nào.
Sống thêm một ngày, tình yêu của bạn sẽ ngày thêm trọn vẹn.
Sống thêm một ngày bạn sẽ biết có những mảnh đời còn bất hạnh hơn ta, và ta biết ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người khác.
-Sống thêm một ngày, bạn biết có những sợi tóc bạc cứ lớn dần theo năm tháng, vì chính bản thân bạn. Và bạn biết rằng bạn cần phải sống và sống thật xứng đáng hơn ngày hôm qua để sự hy sinh là không uổng phí.
Sống thêm một ngày, bạn sẽ khám phá ra rằng đôi tay của mình không chỉ để cầm viết, để làm đẹp mà còn đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người xung quanh ta.
Và cuối cùng, sống thêm một ngày, bạn sẽ có thêm một cơ hội để biết mình vẫn là người hạnh phúc nhất thế gian.
Vậy là bạn đã biết rồi đó, có những niềm vui - chưa - xuất - hiện - trong - hiện - tại, mà chúng đang vẫy tay gọi bạn hướng về phía trước. Hãy can đảm lên nếu lúc này bạn đang chán nản, đang tuyệt vọng, và trái tim bạn đang đau đớn mà muốn ngừng đập, thì hãy nghĩ đến những niềm vui mà bạn sẽ có được trong tương lai.

Và chúng rất xứng đáng để bạn nỗ lực bước tiếp trên cuộc đời này. Sống thêm một ngày, bạn sẽ biết khóc không phải là cách duy nhất để thể hiện sự thất bại, mà người ta biết biến thất bại thành chiến thắng.
Sống thêm một ngày, bạn sẽ biết trong niềm vui còn có nỗi buồn và trong nỗi buồn vẫn loé lên một tia hy vọng.
-Sống thêm một ngày, bạn sẽ có thể yêu thêm một ai đó.
Sống thêm một ngày, bạn sẽ biết rằng trên thế gian này vẫn có một người nào đó yêu thương mình.

Reader's Digest


   OfflinePersonal Gallery of saohomView user's profileSend private message
ThienThu




Joined: 30 Oct 2008
Posts: 182

blank.gif
PostPosted: Fri Nov 06, 2009 4:00 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Ăn với bạn Tây, thật ngại




Không biết các bạn thì như thế nào chứ tôi, mặc dù sống ở ngoại quốc khá lâu và có bạn người ngoại quốc cũng không ít, nhưng tôi lại rất ngại rủ bạn bè ngoại quốc đi ăn, nhất là ăn thức ăn Việt Nam.
Nghe, dễ tưởng là kỳ quặc. Muốn giới thiệu văn hoá Việt Nam thì còn gì hay cho bằng giới thiệu văn hoá ẩm thực của dân tộc? Nghĩ lại xem, đối với phần lớn người ngoại quốc, Việt Nam có gì khác ngoài chiến tranh và ăn uống?
Ngày xưa, thỉnh thoảng người ta còn nhắc đến áo dài. Nhưng vị trí của áo dài càng lúc càng lu mờ. Lu mờ ngay ở Việt Nam: Càng ngày càng ít người mặc, trừ nữ sinh ở các trường trung học. Càng lu mờ ở hải ngoại: Ở xứ lạnh, hầu hết phụ nữ Việt Nam đều ngại mặc áo dài, trừ phi đi lễ ở nhà thờ vào các mùa nắng ấm.

Nhưng ở Tây phương, thành thực mà nói, chiếc áo dài hình như cũng không phát huy hết sở trường của chúng: Cần mỏng và cần gió để, một mặt, phô bày các nét cong của thân thể và sắc trắng mịn của làn da; mặt khác, để tà áo có thể bay phơ phất hầu làm tăng vẻ thướt tha của người mặc nó.

Mất chiếc áo dài, văn hoá Việt Nam chỉ còn một hiện thân ở các món ăn, đặc biệt là phở. Phở đi vào nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Phở không cần được dịch. Các tiệm phở chỉ cần ghi chữ Phở là người ngoại quốc sẽ nhận ra ngay tức khắc.

Tuy vậy, tôi vẫn ngại ăn chung thức ăn Việt Nam với người ngoại quốc.

Ngại, chủ yếu vì những đặc trưng của các món ăn Việt Nam. Tôi có cảm tưởng muốn thưởng thức hết cái ngon của thức ăn Việt Nam, cần mời người ngoại quốc, nhất là người Tây phương,…đi chỗ khác chơi.

Này nhé, nhiều học giả chuyên về ẩm thực của Việt Nam đã nêu lên nhận xét này: Điểm đặc biệt dễ nhận thấy nhất là người Việt Nam không chỉ thưởng thức món ăn bằng vị giác mà còn thưởng thức bằng cả năm giác quan. Đúng hơn bốn giác quan: Trừ xúc giác. Chúng ta dùng đũa chứ không dùng tay; rất hiếm khi dùng tay, trừ trường hợp ăn các loại bánh tráng cuốn.

Trước hết là vai trò của vị giác.

Một món ăn ngon phải là một món ăn ngon miệng. Cái lưỡi sẽ là giám khảo đầu tiên. Đó là chuyện dĩ nhiên và là điểm chung của tất cả mọi dân tộc. Người Việt Nam cũng thế. Việc cho thêm gia vị này nọ vào thức ăn là để đáp ứng nhu cầu này. Trong một tô phở hay tô hủ tiếu, chẳng hạn, đã có chút mặn của muối, chút ngọt ngào của đường hay bột ngọt, lại cần có chút cay của tiêu, của ớt, và chút chua chua của chanh nữa thì mới trọn vẹn.

Sau nữa là vai trò của thị giác.

Ngoài việc ngon miệng, thức ăn phải nhìn sao cho bắt mắt nữa. Trong chén nước mắm pha sóng sánh vàng phải thêm những xác ớt đỏ tươi thì mới thấy ngon. Thay ớt đỏ bằng ớt xanh, cho dù độ cay như nhau, chén nước mắm coi như bỏ. Trong tô mì màu vàng nhạt bao giờ cũng có chút hành, ngò màu xanh nằm bên cạnh miếng bánh tôm màu nâu sậm và những miếng thịt heo thái thật mỏng màu trắng, tất cả tạo thành một sự hài hoà về màu sắc.

Ngay cả việc bày một đĩa thịt gà trong bữa ăn cũng lắm công phu. Thường thì người ta bày ngửa miếng thịt lên một đĩa, da gà ở dưới, thịt xương ở trên, sau đó, người ta lại lật úp sang một dĩa khác để phần da gà nổi lên trên, rực lên màu vàng ruộm rất đẹp mắt. Sau đó, người ta sẽ rắc một tí ngò xanh lên và cuối cùng, đặt một trái ớt đỏ ngay chính giữa, làm thành một tác phẩm tuyệt đẹp.

Ở các tiệm sang hay ở các bữa tiệc cầu kỳ, người ta còn bày đủ trò trang trí: Trái ớt thay vì được đâm cho nát thì lại được chẻ và bẻ ra thành nhiều cánh trông như một đoá hoa đỏ rực. Củ cà rốt hay quả dưa leo được cắt, gọt và trình bày lúc thì như hoa lúc thì như chim đang sải cánh bay.

Đặc biệt hơn nữa là vai trò của khứu giác. Nhà văn Võ Phiến có một nhận xét tinh tế:

“Những người Việt Nam sành ăn đều ăn bằng... mùi. Đối với nhiều dân tộc khác, rau chỉ là rau. Đối với chúng ta có cả một thứ rau gọi là ‘rau thơm’, rau mùi. Mớ rau thông thường của thiên hạ đi vội vàng vào bao tử, bất quá chỉ cần đáp ứng một vài đòi hỏi của vị giác, công dụng chính của nó là công dụng bồi bổ sinh lí, là nhằm một ích lợi thực tiễn.”

“Rau mùi không phải là thứ rau cho bao tử, mà là cho lỗ mũi, cho cái khứu giác tinh vi của một dân tộc không phàm phu, một dân tộc nhằm ‘hưởng’ hơn là ăn. Rau mùi không làm ai no ruột thêm chút nào, nó chỉ có công dụng nghệ thuật mà thôi. […]”

“Trong một dĩa rau thơm, mùi nọ lẫn với mùi kia, tôn nhau lên, chế hoá nhau: Đó là một cuộc hoà tấu, một bản nhạc mùi.” (Võ Phiến, Tuỳ bút, nxb Văn Nghệ, California, 1986, tr. 82).

Trọng cái mùi, hầu hết các món ăn của người Việt đều được ăn nóng. Trên bàn ăn của người Việt thường có khói toả nghi ngút. Ở đây, khói chỉ là hiện tượng. Bản chất của vấn đề là ở cái mùi. Chức năng của khói là đưa mùi bay cao và bay xa. Ngày xưa, những người sành ăn, khi đối diện với tô phở vừa mang từ bếp ra, công việc đầu tiên của họ là áp mũi lên trên tô phở để hít hà cái mùi đặc biệt của phở. Chỉ từ cái mùi, người ta có thể sơ bộ đánh giá được là phở ngon hay là dở.

Trọng cái mùi, người Việt Nam đi đâu cũng mang cái…mùi đi theo. Ở ngoại quốc, muốn tìm nhà đồng hương ư? Dễ lắm. Cứ dòm vào vườn sau của họ: Thế nào cũng có vài cây ớt hay vài dãy hành, ngò, húng, rau răm, v.v… Đến gần cửa, cứ nghếch mũi lên hít hà vài cái: Thế nào cũng nhận ra mùi nước mắm, mùi hành, tỏi phi, v.v…

Nhưng đặc thù nhất là người Việt Nam còn thưởng thức món ăn bằng…thính giác.

Nhiều món ăn Việt Nam sẽ không thể ngon được nếu nó không kêu vang lên. Ăn bánh tráng nướng hay bánh phồng tôm hay ngay cả miếng chả giò (nem) mà không nghe tiếng xốp xốp sẽ không thấy ngon. Ăn cà muối mà không nghe tiếng nổ bụp trong miệng sẽ không thấy đã. Ăn phở hay hủ tiếu mà từ tốn quá, cứ nhai từng cộng thì cũng hết cả ngon.

Món ngon phải ồn. Đó mới chính là điều đáng ngại. Người ta ăn một cách nhỏ nhẻ, lặng lẽ, nhai không mở miệng mà mình thì cứ nhóp nhép ồn ào, thật kỳ. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà những món ăn người Việt Nam khoái khẩu nhất thường ăn ở nhà chứ không phải ở tiệm. Ở những nhà hàng lớn, càng sang trọng bao nhiêu, ăn uống càng rón rén bao nhiêu, càng mất hào hứng bấy nhiêu.

Ở nhà hàng lớn ấy, lại có mấy người bạn mũi lõ ngồi bên cạnh nữa thì lại càng chán.


Nguyễn Hưng Quốc ( VOA)


   OfflinePersonal Gallery of ThienThuView user's profileSend private message
lynhcao




Joined: 30 Apr 2005
Posts: 459

usa.gif
PostPosted: Sat Nov 07, 2009 4:05 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image


Ðàn bà định nghĩa về đàn ông như sau:


- 20 tuổi, như gà trống,sáng nào cũng gáy,chả cần ai nhắc .

- 30 tuổi,như xe hơi mùa lạnh nổ máy hơi khó nhưng chạy tốt .

- 40 tuổi, như bóng đèn,lúc tắt lúc sáng .

- 50 tuổi, như xe tăng,nổ máy rất chậm và di chuyển ì ạch .

- 60 tuổi, như cái đồng hồ cũ, không lắc thì không chạy mà chưa chạy
là lại chết .

- 70 tuổi trở lên thì không thấy có ý kiến gì, chắc "thất thập cổ
lai hy" ?


 Gender:Male  OfflinePersonal Gallery of lynhcaoView user's profileSend private message
saohom




Joined: 26 Aug 2009
Posts: 41

PostPosted: Sun Nov 08, 2009 7:41 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Cải Tổ Y Tế, Huyền Thoại Của TT Obama

VŨ LINH .



...Obama chủ trương đánh thuế nhà giàu đến chết...

Uỷ Ban Tài Chánh Thượng Viện Mỹ vừa thông qua được một dự luật về cải tổ y tế.

Có ba điểm đáng nói. Thứ nhất, chẳng ai biết những gì đã được trao đổi trong hậu trường nhưng kết cuộc chỉ có đúng một thượng nghị sĩ Cộng Hòa bỏ phiếu thuận. Thứ nhì, đảng Dân Chủ nắm đa số tuyệt đối trên cả hai viện, mà sao tranh cãi mãi đến ba tháng rồi chỉ có một ủy ban thông qua được một dự luật? Thứ ba, dự luật của ủy ban này chỉ mới là một trong năm dự luật đang được lưỡng viện thảo luận. Có nghĩa là con đường còn rất dài. Tại sao khó khăn vậy?

TT Obama than phiền những người chống đối kế hoạch đã cố tình xuyên tạc, khiến ông phải đích thân lên tiếng phá vỡ những cái mà ông gọi là “huyền thoại” do đối lập dựng lên.

Những người ủng hộ tổng thống đã chăm chỉ lập lại lý luận của tổng thống. Họ cũng cho rằng ông là người can đảm, đầy lòng nhân ái, đang cố thay đổi một chế độ y tế chẳng những bất công và ích kỷ mà còn tàn nhẫn, hoàn toàn bị chi phối bởi bọn tài phiệt bất lương. Những cố gắng của TT Obama nhằm mang lại một chế độ y tế “tốt hơn và nhân bản hơn” đã bị chống phá bởi nhiều khối thế lực qua những luận điệu ru ngủ mị dân nhằm mục đích làm rối trí thiên hạ, hay có tính cách hù dọa những người thiếu hiểu biết, với mục đích “bảo vệ nồi cơm” của những thế lực đó.

Nếu quý độc giả đọc kỹ một chút về lập luận trên thì sẽ thấy có cái gì đó không ổn.

Theo lập luận này, chỉ có Obama và phe cấp tiến là những người “tốt”, “nhân bản”, còn những người chống Obama đều là xấu, loại cường hào ác bá chỉ biết bảo vệ “nồi cơm” của mình. Đây chỉ là chiêu “độc quyền yêu nước” một chiều hình như chép theo sách vở xã hội chủ nghĩa.

TT Obama có lý khi nói vấn đề đã thành rối mù chằng vì những xuyên tạc và huyền thoại. Nhưng điều ông không nói ra là những huyền thoại không phải chỉ đến từ phe chống đối, mà cũng đầy rẫy ngay trong lập luận của chính tổng thống và các đồng minh.

Những thiếu sót của chế độ y tế Mỹ không phải là chuyện mới có, phải đợi đến khi có Đấng Tiên Tri Barack Obama giáng thế mới được đề cập đến. Đây là mối nhức đầu lớn nhất của TT Harry Truman từ nửa thế kỷ trước, và cũng là mối quan tâm của gần một tá tổng thống Mỹ từ đó đến nay.

Điều này chứng tỏ vấn đề chẳng giản dị như mấy ông tự xưng cấp tiến hiện đang mô tả. Nếu cái huyền thoại “tốt và nhân bản” là sự thật thì không ai giải thích được tại sao qua bao nhiêu đời tổng thống, Dân Chủ cũng như Cộng Hòa, mà vẫn không thể áp dụng được trong nửa thế kỷ qua. Nước Mỹ là nước dân chủ nhất thế giới từ xưa đến nay, chứ có phải là xứ độc tài kiểu Staline trong đó tiếng nói của dân bị thiểu số gian tham dìm chết đâu.

Một huyền thoại lớn đang được nhóm cấp tiến thổi phồng là các dân cử đối lập Cộng Hòa đã bị đồng tiền của tài phiệt chi phối.

Nếu phe cấp tiến xỉ vả những chính khách bị đồng tiền mua chuộc thì họ nghĩ thế nào về TT Obama là người đã đắc cử vào Tòa Bạch Ốc (hay là mua?) với cái giá chưa từng thấy là 700 triệu đô la, hai phần ba số tiền đó đến từ các đại công ty, các khối quyền lợi, các công đoàn, các tỷ phú từ Wall Street đến Hollywood? Hoan hô Obama trong khi chỉ trích các chính khách khác đã bị đồng tiền chi phối, nghe có nghịch lý không? Nhất là khi các chính khách Cộng Hòa “hủ hóa” này nếu kiếm được 1% của số tiền Obama thu được đã là giỏi lắm rồi.

Nhìn cho kỹ, ta thấy cải tổ y tế đang gặp khó khăn không phải vì huyền thoại Cộng Hòa chống đối vì đảng này là thiểu số tuyệt đối. Cũng không phải do chống phá của tổng giám đốc các hãng bảo hiểm vì những ông này không có quyền bỏ phiếu trong cả hai viện. Thật ra, những vấn đề của chế độ y tế Mỹ phức tạp hơn luận điệu ấu trĩ trên.

Không kể những lý do chi tiết, có hai lý do chính chống lại cải tổ y tế của TT Obama. Thứ nhất là chi phí quá cao, và thứ nhì là nguy cơ quốc hữu hoá chính sách y tế.

Vấn đề thứ nhất là chi phí. Chưa kể chi phí cải tổ y tế này thì ngân sách Mỹ đã thâm thủng khoảng mười ngàn tỷ trong mười năm tới, nhờ tính “nhân bản” của TT Obama, sẵn sàng lấy tiền thuế của dân “nhà giàu” tái phân phối lại cho dân “nhà nghèo”. TT Obama tuyên bố chắc nịch kế hoạch cải tổ y tế của ông, dù tốn một ngàn tỷ, nhưng ngân sách sẽ không bị thâm thủng thêm, cho dù là một xu, và những quyền lợi y tế hiện hữu trong Medicare và Medicaid sẽ không bị cắt gì hết.

Đây là lý luận của một phù thủy có phép tàng hình, đi trên mặt nước được, và vỗ tay ra 1.000 tỷ, mà chỉ những đệ tử cuồng tín nhất mới tin được. Thăm dò mới nhất cho thấy trong 10 người Mỹ, có 8 người tin rằng cải tổ y tế sẽ gia tăng phí tổn hay tiết giảm dịch vụ y tế họ đang có, và chỉ có 4 người ủng hộ kế hoạch của TT Obama.

Đại cương, TT Obama hứa sẽ chu cấp cho kế hoạch này bằng hai cách. Thứ nhất là cắt giảm phí phạm hành chánh, được ước tính có thể lên đến một phần ba chi phí cải tổ. Và thứ nhì là tăng thuế nhà giàu.

Obama là tổng thống thứ… 44 của Mỹ đã hứa hẹn cắt giảm phí phạm hành chánh. Chưa có một tổng thống nào mà lại không hứa cắt giảm phí phạm. Thực tế nếu làm được thì không còn lý do để TT Obama cho đến ngày nay, hơn 200 năm sau TT George Washington, vẫn tiếp tục hứa hẹn cắt giảm phí phạm. Và cũng chỉ có những đệ tử ngoan đạo nhất của giáo chủ Obama mới tin ông này có phép lạ làm được chuyện mà 43 tổng thống trước không làm được. Ta hãy chờ xem.

Về chuyện tăng thuế “nhà giàu” thì lập luận của TT Obama và phe cấp tiến nghe như những “nhà giàu” đều là những tên cướp cạn, làm giàu trên xương máu dân nghèo, nên cần phải bị đẽo lột thuế tận cùng. Nghe cũ rích, “bác” Các-Mác đã nói từ hơn một thế kỷ trước, và các “bác” Mao và Hồ đã ra tay trừng trị, đấu tố, chôn sống.

Chuyện chính quyền Obama dùng lại lập luận của mấy “bác” này không là chuyện lạ khi ta nhớ lại bà Anita Dunn, Giám Đốc Thông Tin của Tòa Bạch Ốc, công khai tuyên bố Mao Trạch Đông là “triết gia chính trị bà ái mộ nhất” (my favorite political philosopher).

Nhiều người rất mau miệng xỉ vả dân “nhà giàu”, tức là những người giàu hơn họ, mà lại quên mất chính họ cũng bị nhiều người nghèo hơn chỉ trích vì cái tội… giàu hơn những người này. Giàu nghèo chỉ là chuyện tương đối. Ta không cần tranh cãi thêm, mà chỉ cần nhìn lại lịch sử thế giới. Đầu máy cho thịnh vượng kinh tế luôn luôn là mấy ông “nhà giàu” đáng ghét này chứ chưa bao giờ là các công chức lè phè làm việc “vì dân, do dân, bởi dân”. Ngay chính Đặng Tiểu Bình cũng đã phải nhìn nhận “làm giàu không phải là cái tội”, và nhờ vậy Trung Quốc ngày nay đã không còn là cái Trung Quốc khốn khổ của “nhẩy vọt xuống hố” hay “cắt mạng văn hoá” nữa.

Có người lý luận là không thể chấp nhận được chuyện một tổng giám đốc làm lương 60 triệu một năm, gấp 6.000 lần một công nhân lãnh 10.000 một năm. Do đó phải đè xấn ông này xuống để lấy thuế cho công bằng. Lý luận kiểu mỵ dân này cũng từ sách vở của “bác” Các-Mác ra.

Thứ nhất, không ai bắt buộc công ty phải trả 60 triệu cho ông tổng giám đốc này. Công ty có thể mướn một người khác - như mướn kẻ viết bài này với mức lương 10.000 cũng đủ rồi! - tại sao công ty không làm vậy? Mức lương đó là một sự trao đổi và thỏa thuận trong tự do giữa hai bên, do nhu cầu của hai bên, không ai lỗi, không ai phải hết.

Thứ nhì, so sánh mức lương dựa trên năng xuất đó không giải thích được chuyện một chị Oprah Windfrey nói chuyện cà kê trên TV mà lãnh 80 triệu một năm, hay anh Tiger Woods chỉ đánh gôn chơi mà thu được một trăm triệu một năm trong khi TT Obama, bù đầu với sinh mạng của hơn 300 triệu dân Mỹ trong gần bẩy tỷ người trên thế giới lại chỉ lãnh có 400.000 một năm. Obama phải cật lưng làm việc 20 tiếng một ngày, 365 ngày một năm, trong 250 năm mới bằng Tiger đánh gôn trong một chục cái cuối tuần.

Cái nghịch lý đó chính là nền tảng của kinh tế thị trường, tự do bán, tự do mua.

Nếu TT Obama thấy lương tổng thống quá ít, ông không cần ra tranh cử, đi bán xe cũ chắc nhiều tiền hơn với tài ăn nói của ông. Cái chế độ “bất công” đó đưa đến tình trạng một thiểu số rất nhỏ có lợi tức lố bịch, nhưng đại đa số còn lại vẫn sung túc hơn là trong chế độ công bằng trước chén bo bo của xã hội chủ nghĩa.

Có thể cái lý tưởng công bằng của TT Obama là 1% dân giàu nhất đóng hết thuế để 99% số dân còn lại có được tất cả miễn phí. Kẻ viết này không thuộc thành phần 1% giàu đó nên không màng, mặc dù cái lý tưởng đó khuyến khích 99% dân chúng vứt bỏ hết tinh thần trách nhiệm và nỗ lực cá nhân. Nhưng thực tế không bao giờ có được chuyện này. Thực tế là không có cách nào 1% những nhà giàu này có đủ tiền để chu cấp hơn mười ngàn tỷ phí tổn của các chương trình vĩ đại của TT Obama, cho dù tất cả lợi tức của họ bị tịch thu qua thuế.

Có một nghịch lý hiển nhiên nữa mà những người hoan hô Obama không nhìn thấy hay không muốn nhìn thấy. Ứng viên Obama chủ trương đánh thuế nhà giàu đến chết, nhưng trong cuộc tranh cử tổng thống, theo tài liệu được công bố, đa số các tài phiệt ở Wall Street lại ủng hộ Obama, trong đó có những tỷ phú nổi tiếng thế giới như George Sorros hay Warren Buffet? Họ điên hết rồi sao?

Thật ra họ ủng hộ Obama thứ nhất để tránh tiếng là thuộc phe “nhà giàu da trắng” chuyên bóc lột thiên hạ. Thứ nhì là họ thính mũi, biết trước McCain không thể thắng được, nên ủng hộ Obama trước để lấy điểm. Thứ ba là họ chẳng sợ bị Obama đánh thuế, vì có tăng thuế bao nhiêu thì họ cũng có cách bán cái lên đầu chúng ta, người tiêu thụ. Nếu các doanh gia này ngồi im chấp nhận trả thuế nhiều hơn mà không tìm cách gỡ lại thì họ quả là không khôn ngoan lắm, và nếu không khôn ngoan lắm, chắc họ... cũng như chúng ta thôi, không thể thành tỷ phú được. Tăng thuế trên lợi tức của họ thì họ sẽ đòi công ty tăng lương để bù đắp lại, và công ty cần họ, sẽ tăng lương, rồi tìm cách gỡ bài cào bằng cách tăng giá hàng bán cho chúng ta. Và đó chính là cái thuế gián tiếp và vô hình mà chúng ta phải gánh trong khi TT Obama vẫn có thể quả quyết ông đã giữ lời hứa không tăng “thuế” giới nghèo và trung lưu.

Hơn nữa, mấy ông nhà giàu nào cũng có cả chục cố vấn chỉ dẫn cách tránh thuế - rất hợp pháp. Nếu như TT Obama quyết định tăng thuế nhà giàu tới mức 50% chẳng hạn, và nếu có người nào nghĩ rằng anh Tiger sẽ đóng năm chục triệu tiền thuế thì người đó phải là người ngây thơ nhất thế giới.

Lời xác định của TT Obama là sẽ không tốn thêm một xu hay không cắt giảm quyền lợi gì hết chỉ là một huyền thoại mà TT Obama dùng để rao bán cải tổ y tế. TT Obama phải tăng thuế (trực tiếp, gián tiếp, vô hình, hữu hình), hoặc là cắt giảm ngân sách an sinh, y tế, an ninh, quốc phòng, hay gì gì đó.

Lý do chống đối thứ hai là nguy cơ quốc hữu hoá chế độ y tế Mỹ.

Đề nghị của TT Obama dĩ nhiên còn xa lắm mới đi đến chuyện có thể gọi là quốc doanh hoá chế độ y tế, và chúng ta chưa cần lo sợ nước Mỹ trở thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Hoa Kỳ, nhưng có quyền lo sợ sẽ phải cõng thêm một con khủng long quốc doanh là hệ thống bảo hiểm công do công chức điều hành. Kinh nghiệm nhìn thấy mười mươi là các cơ quan do các công chức quản lý, như Quỹ An Sinh, Medicare, Medicaid, bưu điện USPS, xe lửa Amtrack, hoặc hai cơ sở bán công về tin dụng gia cư là Fannie Mae và Freddie Mac… đều lủng đáy và đã phá sản từ lâu nếu không được Nhà Nước nuôi hoặc cấp cứu bằng tiền thuế của chúng ta. Cho nên lý luận bảo hiểm công sẽ cắt giảm chi phí y tế cũng chỉ là một huyền thoại khác của TT Obama.


Những người ủng hộ TT Obama cho rằng chống đối kế hoạch cải tổ y tế là những người chủ trương duy trì tình trạng tệ hại hiện tại. Nói vậy có tính cách hàm hồ, kiểu đánh phủ đầu những ai không đồng ý với mình. Những thiếu sót của hệ thống y tế Mỹ là chuyện rõ hơn ban ngày, và ai cũng thấy nhu cầu cải tổ. Cải tổ như thế nào mới là khúc mắc chưa có giải pháp.

Từ thời ông Harry Truman đến nay, tất cả các tổng thống đều đã làm một cái gì, không nhiều thì ít. Ngay cả tổng thống Bush là người bị cho là bảo thủ nhất, cũng đã cải tổ chế độ thuốc men trong Medicare.

Vấn đề của cuộc cải tổ lần này của TT Obama là quá lớn, quá mạnh, quá mau, và quá đắt. Nếu như kế hoạch được cứu xét lại, điều chỉnh bớt lại, thì có thể sẽ được chấp nhận dễ hơn và hy vọng thành công lớn hơn. Và cả nước sẽ được nhờ hơn. Nhưng ông là bậc giáo chủ siêu phàm nên đòi làm tất cả và thấy có sự chống đối là đả kích những người không đồng ý là dựng ra huyền thoại. Chuyện ông Obama có thể làm được mọi việc mới là huyền thoại, lớn nhất (25-10-09).

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@.... Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba


   OfflinePersonal Gallery of saohomView user's profileSend private message
dodom




Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

blank.gif
PostPosted: Mon Nov 09, 2009 2:20 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

Tô Thùy Yên, một trong những tiếng thơ lớn,
của 20 năm văn chương miền Nam.



Tô Thùy Yên, theo tôi, là một trong những nhà thơ của 20 năm văn học miền Nam, có ảnh hưởng rộng, lớn. Cái ảnh hưởng rộng, lớn ông có được, không phải vì ông cùng với Thanh Tâm Tuyền là hai “mũi nhọn xung kích” thổi bùng ngọn lửa thơ tự do ở miền Nam, như một số người ngộ nhận.

Sự thực, cùng với Thanh Tâm Tuyền, những người tận hiến tâm huyết mình, cho mục đích xiển dương thơ tự do ở miền Nam (giới hạn trong phạm vi tạp chí Sáng Tạo,) là Quách Thoại, Trần Dạ Từ, Trần Lê Nguyễn, Ðỗ Quý Toàn, Ngọc Dũng, Người Sông Thương (bút hiệu của Nguyễn Sĩ Tế)... chứ không phải là Tô Thùy Yên. Những bài thơ của ông, được yêu thích nhất, cũng không phải là những bài thơ tự do mà, lại là thơ vần, điệu. Hoặc những bài ông dung hòa được đặc tính của thơ tự do và thơ cũ (như một số tác giả cùng thời khác đã thành công. Ðiển hình, như cố thi sĩ Nguyên Sa).

Duyệt lại hành trình thi ca Tô Thùy Yên, 20 năm văn chương miền Nam, căn cứ trên mấy chục số tạp chí Sáng Tạo, từ bộ cũ đến bộ mới; bên cạnh những bài thơ tự do, Tô Thùy Yên còn có nhiều, khá nhiều, những bài thơ có vần, điệu. Ðôi khi vần, điệu của ông, nơi những bài thơ ấy, còn chặt chẽ hơn cả những thi sĩ thời tiền chiến nữa. Trong thể loại này, Tô Thùy Yên trội, bật nhất là thể thơ 7 chữ.

Bài thơ đầu tiên (?)của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết Tháng tư, năm 1956. Một bài thơ 7 chữ.

Bài thơ này có tất cả 15 câu, toàn vần “au.” Rất chặt chẽ. Bài thơ đó, nguyên văn như sau:

“Trên cánh đồng hoang thuần một mầu

“Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi

“Tàu chạy mau mà qua rất lâu.

“Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.

“Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.

“Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.

“Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.

“Ngựa thở hào hển, thở hào hển.

“Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.

“Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.

“Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.

“Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.

“Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.

“Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,

“Chấm giữa nền nhung một vết nâu.” (1)

Tôi nghĩ, có thể vì tính liên tục của cuộc rượt, đuổi giữa con ngựa và, chuyến tàu, nên tác giả đã cố tình không phân đoạn bài thơ của mình (?)

Nếu phân đoạn bài thơ trên với 4 câu cho mỗi khổ thơ, chúng ta sẽ có tất cả 4 khổ, mà khổ thơ chót, chỉ có 3 câu (Như thể đánh dấu sự bỏ cuộc, gục ngã bất ngờ, phút chót của con ngựa?!)

Dựa trên việc phân đoạn, để sự tìm hiểu bài thơ dễ dàng hơn; ghi nhận đầu tiên của tôi là, Tô Thùy Yên đã dùng âm “trắc” cho chữ cuối cùng của câu thứ hai - Nhưng không phải để hiệp vần “trắc” với chữ cuối cùng của câu thứ tư - Mà, nó chỉ là sự chuyển đổi vị trí. Bởi vì, ông vẫn cho hiệp vần “bằng” của các chữ cuối, ở những câu thứ nhất với các câu thứ ba và, thứ tư.

Nói về thơ 7 chữ, cũng như nói về thơ lục bát, những người có kinh nghiệm với cuộc chơi “chọn vần, lựa chữ,” đều hiểu rằng, ngoài luật định hiệp vần, còn có luật định về nhịp điệu riêng của thể thơ này nữa.

Nhìn lại những nhà thơ tiền chiến, từng được mô tả là thành công với thể thơ 7 chữ, tôi nghĩ, chúng ta có thể nhắc tới Huy Cận, với bài “Tràng Giang.”

Khổ thơ thứ nhất của bài “Tràng Giang,” nguyên văn như sau:

“Sóng gợn tràng giang/buồn điệp điệp,

“Con thuyền xuôi mái/nước song song.

“Thuyền về nước lại,/sầu trăm ngả;

“Củi một cành khô/lạc mấy dòng.” (2)

Tôi dùng dấu gạch chéo/slash để phân nhịp cho mỗi câu thơ. Kết quả, tất cả 4 câu thơ này, đều có nhịp 4/3.

Bước qua một bài thơ 7 chữ khác, cũng của Huy Cận, ta thấy, chúng cũng có chung một nhịp 4/3 như thế. Như bài “Vạn lý tình.” Cũng đoạn thứ nhất:

“Người ở bên trời,/ta ở đây;

“chờ mong phương nọ,/ngóng phương nầy.

“Tương tư đôi chốn/tình ngàn dặm,

“Vạn lý sầu lên/núi tiếp mây.” (3)

Nhịp 4/3 cũng là nhịp của hầu hết những bài thơ 7 chữ của Lưu Trọng Lư. Tôi xin chọn bài 7 chữ của ông, quen thuộc nhất với chúng ta. Bài “Nắng mới”:

“Mỗi lần nắng mới/hắt bên song,

“Xao xác gà trưa/gáy não nùng;

“Lòng rượi buồn theo/thời dĩ vãng,

“Chập chờn sống lại/những ngày không.” (4)

Ngay Xuân Diệu (người được coi là luôn có những đổi mới đáng kể về hình thức, cũng như tu từ,) cũng dùng nhịp 4/3 cho thơ 7 chữ của ông:

“Tôi nhớ Rimbaud/với Verlaine

“Hai chàng thi sĩ/choáng hơi men

“Say thơ xa lạ,/mê tình bạn,

“Khinh rẻ khuôn mòn,/bỏ lối quen.”

(Trích Tình Trai) (5)

Nhưng Tô Thùy Yên đã cho thơ 7 chữ của ông một nhịp, điệu khác.

Trừ 2 câu đầu, và câu số 10, với nhịp 4/3 - Tất cả những câu còn lại của bài “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu,” đều ở nhịp 3/4; ở những câu số 3, 4. Nhịp 3/2/2, ở những câu số 5, 9, 11, 13. Hoặc nhịp 2/5, ở những câu số 6, 14. Thậm chí ông còn cho câu số 12 của ông, một nhịp lạ hơn nữa. Ðó là nhịp 2/1/4: “Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.”

Tuy nhiên, bài thơ không chỉ tạo được sự chú ý chỉ bởi nhịp đi mới mẻ của nó!

Sâu xa hơn, theo tôi, lại là những gì nằm sâu, sau phần hình thức này.

Tôi nghĩ, hình ảnh con ngựa rượt, đuổi chuyến tàu, với phông nền là những cánh đồng nối nhau, hút mắt; là một bức tranh sống động vẽ bằng... ngôn ngữ. Sức sống động mạnh mẽ tới độ, chúng cho ta cảm tưởng tác giả đã chụp được một bức ảnh thời gian... Bằng tài năng đặc biệt của mình.

Lại nữa, sự đuối sức, đầu hàng, từ giã cuộc đua của con ngựa, vẫn theo tôi, là một ẩn dụ, nhắc nhở rằng: Ý chí, sức mạnh của con người, dù kiên quyết, lớn lao tới đâu, cũng vẫn bị lưỡi dao hữu hạn, đời người, chém đứt!!!

Nói cách khác, bất lực trước, sau, vẫn là thuộc tính của con người, khi con người phải đối diện với chiều dài thời gian. Vô tận.

Ðọc lại bài thơ, một lần nữa, về phương diện nhịp, điệu, tôi chợt có cảm nhận rằng, khi Tô Thùy Yên chọn cho bài 7 chữ này của ông, những nhịp đi gập ghềnh, có dễ ông cũng muốn cho người đọc liên tưởng tới những hơi thở không đều của chuyến tàu, con ngựa trong cuộc rượt. Một cuộc rượt, đuổi với tốc độ “tàu chạy mau mà qua rất lâu,” hay “tàu chạy mau, tàu chạy rất mau”... dẫn tới kết quả là những hơi thở “hào hển” hoặc, “cúi đầu”...

Mọi ẩn dụ, liên tưởng mà, bài thơ đem được, đến cho người đọc, theo tôi là những chiếc chìa khóa quý giá, để độc giả được quyền thênh thang bay bổng, phiêu hốt trong đất, trời rất tư, riêng, của bài thơ ấy - Dù cho (cũng dễ hiểu thôi,) nếu những cảm nhận của độc giả, thường... xa lạ, không ăn nhằm, chẳng liên hệ gì, tới tình, ý (mơ hồ?) của tác giả, khi sáng tác!

Nhưng, điều đó, cũng chỉ có thể xẩy đến cho những bài thơ hay, đi ra từ những tài thơ lớn. Mà, “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu,” là một thí dụ cụ thể vậy.

Du Tử Lê


   OfflinePersonal Gallery of dodomView user's profileSend private message
dodom




Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

blank.gif
PostPosted: Tue Nov 10, 2009 1:25 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

Ngày xưa ...Ngày nay

Quan bà :

Ngày xưa mái tóc buông lơi ,
Bây giờ sợi rụng sợi rơi đầy nhà .
Ngày xưa da trắng nõn nà ,
Bây giờ da đã trổ hoa .... đồi mồi .

Ngày xưa miệng cười thật tươi ,
Bây giờ móm xọm rụng mười cái răng .
Ngày xưa mặt sáng như trăng ,
Bây giờ xám xịt như vầng mây đen,

Ngay xưa yểu điệu như tiên
Bây giờ lẹt đẹt như con vịt bầu .
Ngày xưa chum chúm núm cau ,
Bây giờ lỏng thỏng như bầu trên cây .

Ngày xưa nhựa sống căng đầy ,
Bây giờ vắt mãi bẩy ngày cũng không .
Ngày xưa thắt đáy lưng ong ,
Bây giờ to bụng còn mông phẳng lờ .

Ngày xưa rậm rạp cỏ mơ ,
Bây giờ thưa cứng tưa hồ rễ tre .
Ngày xưa ăn nói dễ nghe ,
Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa ..

Ngày xưa thích được mây mưa ,
Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì
Ngày xưa thường sánh vai đi ,
Bây giờ chỉ thích năm ì ...xem phim ..

Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
Bây giờ mặc kệ ..con chim mất rồi.

Quan Ông:

Ngày xưa như sắt như đồng
Như đinh đóng cột, như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu

Hơn nửa thế kỷ dãi dầu
Tháng ngày oanh liệt còn đâu nữa mà
Ngày xưa súng ống sáng loà
Bây giờ chẳng khác quả cà mốc meo

Ngày xưa sung sức thì nghèo
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi
Ngày xưa lớn khoẻ hơn chồi
Bây giờ nó có đàn hồi nữa đâu

Ngày xưa hùng hục như trâu
Bây giờ èo ọt như tàu lá khoai
Ngày xưa khám phá miệt mài
Bây giờ nửa cuộc mệt nhoài đứt hơi

Ngày xưa chiến tích để đời
Bây giờ chiến bại nhớ thời ngày xưa
Ngày xưa bất kể sớm trưa
Bây giờ thỉnh thoảng lưa thưa gọi là

Ngày xưa đầu tóc mượt mà
Bây giờ lởm chởm như là đá chông
Bây giờ sống cũng như không
Bây giờ hết kiếp làm chồng người ta

Bây giờ ôm hận đến già
Cho dù béo tốt cũng là cơm toi
Bây giờ pháo đã xịt ngòi
Gia tài còn lại một vòi nước trong

Ngày xưa vợ đợi bồ mong
Bây giờ vợ nguýt, bồ cong cớn lườm
Ngày xưa mặt mũi tinh tươm
Bây giờ nhầu nhĩ như tương nấu mì

Ngày xưa lên ngựa là phi
Bây giờ nước kiệu cố đi gọi là
Ấy là kể chuyện trong nhà
Sang nhà hàng xóm vẫn là… ngày xưa

XO


   OfflinePersonal Gallery of dodomView user's profileSend private message
Display posts from previous:      
Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic

View next topic
View previous topic
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum


All times are GMT

Board Security

16262 Attacks blocked
Powered by phpBB2 Plus, Artikelverzeichnis and Webkatalog based on phpBB © 2001/6 phpBB Group :: FI Theme :: Mods and Credits