| Author |
Message |
macco

Age: 55
Joined: 17 Jan 2005
Posts: 1061

|
|
Nhân vụ "lôi thôi"
giữa "Tập thể CSVNCH hải ngoại" và ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG
MỘT ẨN Ý CÓ TÍNH TOÁN?: Như từ lúc ban đầu khi sinh hoạt trên các diễn đàn điện tử, Qúy bạn đọc đã nhận thấy rất rõ ràng tôi hết sức né tránh đến những đụng chạm có tính cách cá nhân với cá nhân để khỏi làm sứt mẻ thêm tinh thần đoàn kết cuả cộng đồng vốn dĩ theo truyền thống, đã có nhiều sứt mẻ.
Do đó, tôi chỉ "nhập cuộc" khi sự việc mà tôi kượng giá kỹ trước khi "tham chiến" có những vấn đề : a) Hoặc ẩn dấu những âm mưu xấu có hại cho đất nước và dân tộc, như có kẻ đem kim dấu vào nùi rẻ, hay chôn chông để bẫy người!
b) Hoặc thực chất đó là nơi đồn trú cuả những ổ vi trùng mang "tư tưởng HỒ CHÍ MINH ếm dưỡng quân"!
.......... Trong vụ lôi thôi đáng tiếc này, mới bùng nổ ít lâu nay, tôi không lưu tâm vì không muồn làm cho sự việc rối mò thêm. Nhưng sáng nay, mới đọc lướt sơ qua lá thư ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNGgửi ông Chủ tịch NGUYỄN XUÂN VINH, chỉ một đoạn mở đầu ngắn thôi, định nghĩa danh từ Việt Gian tôi đã thoáng bắt gặp một sự không ổn và đưa lên diễn đàn, xin ý kiến công luận.
.......... Tôi muốn nói tới vấn dề chính danh cuả một danh từ để dễ bề hành xử trong thực tế!
.......... Nếu đọc lá thư bằng con mắt bình thường như người đọc bất kỳ một bài viết tranh luận nào khác trên diễn đàn thì lá thư này cũng chẩng có gì phải..... bấm còi hụ; nhưng là một lá thư có tính cách là tiền đề cho một vụ án chính trị thì lại là chuyện khác!
.......... Theo ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG, hội "TẬP THỂ CHIẾN SĨ VIỆT NAM" đã nhục mạ Ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG là "VIỆT GIAN" và ông NGUYỄN XUÂN VINH là Chủ Tịch có nhiệm vụ phải cải chính theo Luật Pháp đã quy định; cũng như sự cải chính được áp dụng trong một khoảng thời gian mà Luật Pháp đã ấn định.
.......... Tôi không có nhiệm vụ phán đoán về nội dung vụ án; đó là nhiệm vụ cuả ngành Tư Pháp, một khi ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG làm xong các thủ tục tố tụng! Tôi chỉ xin nêu ý kiến về sự định nghĩa cuả nguyên đơn, nếu vụ lộn xộn này không được giải quyết trong êm đẹp, đưa đến nhiều đáng tiếc, từ tinh thần đến vật chất!
.......... Ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG định nghĩa một cách xác định danh từ kép "VIỆT GIAN" rằng "Việt gian là một từ ngữ để ám chỉ người Việt Nam đang cư ngụ tại hải ngoại hoạt động hợp tác hay phục vụ cho cầm quyền Cộng Sản Việt Nam".
.......... Tôi phân vân tự hỏi, sao ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG lại định nghĩa một danh từ đơn giản như vậy, theo định kiến một cách què quặt thảm hại đến như thế? Một sự nghèo nàn văn hoá ở trường học hay một ẩn ý cố tình cuả trường đời???
.......... Nếu luật lệ Dân Sự hiện hành ở Tiểu bang California căn cứ theo sự định nghĩa cuả ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG thì luật Pháp cuả HOA KỲ sẽ tạo ra một tiền án làm xụp đổ và đảo lộn mọi tư duy cuả dân tộc VN quan niệm về yêu nước!
.......... Tiền án này cho phép "rửa tội" cho TRẦN ÍCH TẮC, LÊ CHIÊU THỐNG và những bầy đàn đồng loại vì những nhân vật ấy khi làm công việc ấy họ không có cư ngụ ở hải ngoại!
.......... Không những Toà án MỸ xử căn cứ theo sự định nghiã cuả ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG là đương nhiên phá án cho bọn bán nước Việt Nam trong quá khứ mà còn là tiền lệ tương lai sẽ tha bổng tôi VIỆT GIAN cho những kẻ là người VN hay gốc việt đã có những hành động phản động!
.......... Nói theo sự định nghĩa cuả ông NGUYỄN PHƯƠNG HÙNG, những tội ác đại nghịch đại gian đại ác cuả đảng VGCS như diệt chủng dân tộc theo lệnh NGA - HOA; dâng đât, nhường biển, hiến tặng tài nguyên của Quốc gia cho TRUNG CỘNG cũng không phải là VIỆT GIAN sao?
.......... Những ẩn ý này, với kinh nghiệm là Dân biểu VNCH, kinh nghiệm nghiên cứu luật trong những năm tháng hưởng ơn dân đã gíúp tôi nhìn thấy. Đông cũng như Tây phương đã có câu "biết mà không nói là có tội". Tôi không muốn chính mình là kẻ có tội do người khác làm nên cực chẳng đã, bắt buộc phải nói ra!
Colmar ngày 05 - 11 - 2009
NHỮ - VĂN - ÚY
|
|
|
|
|
|
 |
    |
 |
Nguyễn_Sydney

Age: 63
Joined: 06 Dec 2004
Posts: 1901

|
|
Tình hữu nghị và nghĩa đồng bào
Nguyễn Ðạt Thịnh
Hai chữ “tình” và “nghĩa” chi phối nhiều việc trong đời một con người; tình gần chữ yêu, trong lúc nghĩa gần với bổn phận. Cái tít 7 chữ trên bài này là của phóng viên Trần Văn, đài RFA, tôi mượn làm tựa của bài báo hôm nay vì lâu lắm mới được đọc một bản tin RFA dễ đọc; và để ca ngợi phóng viên Trần Văn, tôi xin phép anh giữ nguyên cái tựa đầy ý nghĩa.
Anh muốn nói về tình hữu nghị Việt-Hoa giữa đảng viên hai đảng Việt Cộng và Trung Cộng, mối tình thường được Hà Nội ca ngợi là thắm thiết, “sông liền sông, núi liền núi”, là “môi hở răng lạnh”, và nghĩa đồng bào là liên hệ giữa những ông quan lớn Ba Ðình và ngư dân Quảng Ngãi, cả hai nhóm người này cùng có cái gốc chung là con Hồng, cháu Lạc.
Tình hữu nghị Việt-Hoa được chính tờ báo Quân Ðội Nhân Dân Việt Cộng ca ngợi, anh Trần Văn chỉ ghi nhận lại. Nếu kỹ thuật in của trang báo đang cầm trên tay đủ tốt, bạn đọc có thể nhìn thấy trên măng xét tờ báo Quân Ðội Nhân Dân 3 cái huy chương và 3 hàng chữ lớn: “Tin Chính Trị: Tầu Hải Quân Việt Nam tích cực tìm kiếm ngư dân Trung Quốc gặp nạn.”
Tìm kiếm và giúp đỡ người gặp nạn trên biển cả phải được liệt vào loại tin xã hội, nhưng Việt Cộng gọi đây là tin chính trị vì công tác cứu nạn được quốc gia đàn anh trong tình hữu nghị ra lệnh cho Việt Cộng làm.
Phóng ảnh của đài RFA
Tờ báo phát hành ngày thứ Năm 10/20, đúng 21 ngày sau khi lính Trung Cộng bầy tỏ tình hữu nghị Hoa - Việt bằng cách đánh, bóp cổ, cướp tiền bạc, dụng cụ hành nghề của ngư phủ Việt Nam, và dùng xà beng, búa, dao phá hoại tầu cá của họ.
Báo Quân Ðội Nhân Dân không loan tin chính trị này.
Tờ báo cho biết, sau khi Bộ Ngoại giao Trung Cộng đề nghị Việt Cộng tham gia tìm kiếm hai tàu đánh cá của Trung Cộng ở vùng biển gần đảo Bạch Long Vĩ, bộ Tổng Tham mưu Việt Cộng đã điều động bốn tàu hải quân lên đường tìm kiếm hai con tàu cá của Tầu đánh cá trong hải phận Việt Nam.
Cũng cùng ngày hôm đó, tờ Tuổi Trẻ trích lời một đại tá chỉ huy phó đội biên phòng Quảng Ngãi, cho biết, thiệt hại mà ngư dân của 16 con tàu đánh cá ở Quảng Ngãi vào quần đảo Hoàng Sa trú bão số 9, bị lính Trung Cộng tịch thu tài sản, nhiên liệu được ước lượng gần một tỉ đồng.
Vượt trên cái “nghĩa” đồng bào, quên đi những nhục nhằn của ngư dân Quảng Ngãi, bộ Tổng Tham mưu Việt Cộng chỉ thị cho Hải quân Việt Cộng tận tụy thi hành trọng trách tìm ngư dân Tầu, và nếu họ còn sống, cứu giúp họ.
Nguyên văn bài báo đăng trên tờ Quân đội nhân dân viết, “Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều động bốn tàu hải quân tham gia tìm kiếm tàu cá Trung Quốc bị nạn. Đến 7 giờ 55 phút ngày 17 tháng 10, tàu HQ 797 đã phát hiện và vớt được một thi thể ngư dân Trung Quốc ở khu vực đông nam đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý. Văn phòng Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn đã thông báo cho phía tàu Trung Quốc đến vị trí của hai tàu HQ 797 và HQ 786 nhận bàn giao thi thể ngư dân Trung Quốc.”
Dĩ nhiên thái độ của hải quân Việt Cộng đúng với tình nhân đạo, đúng với trọng trách cứu nguy trên biển cả, và đúng cả với 16 chữ vàng ca tụng tình hữu nghị Việt – Hoa; nhưng dư luận Việt Nam lại chê trách là hải quân Việt Cộng coi nghĩa đồng bào ruột thịt Việt Nam rẻ hơn tình hữu nghị giữa hai đảng cộng sản.
Người dân Quảng Ngãi hỏi trong lúc họ bị lính Trung Cộng bắn thì hải quân Việt Cộng ở đâu. Một ngư dân nói, “Chính phủ xác nhận Hoàng Sa là của Việt Nam thì mình tin là của Việt Nam, nhưng của Việt Nam gì mà ra nó bắt miết. Việt Nam đi ra đó là phải né đi ban đêm chứ ban ngày không dám đi, sợ ngang qua đó nó bắt.”
Ông Trương Minh Quang chủ tàu QNg 90078, kể: “… bão tan rồi, là đến lượt nó; nó ra nó lấy đồ hết. Nó bóp cổ, nó làm dữ dội lắm, nó làm kinh lắm. Máy móc, dụng cụ mình đi làm, nó lấy hết luôn, chỉ để lại một la bàn cho mình về thôi.”
Hai sự kiện vừa viết cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong cách hành xử đối với những ngư dân lâm nạn. Một bên tích cực cứu giúp, bên kia thì đánh đập, cướp bóc.
Ngư dân còn đau đớn hỏi, “nghĩa đồng bào đâu rồi?” Họ trách quân đội gọi là quân đội nhân dân Việt Nam lại chỉ tích cực cứu giúp ngư dân Trung Quốc.
Những người này nói khi họ lâm nạn trên biển, rất cần sự hỗ trợ của cả chính quyền lẫn quân đội, song hiếm khi ngư dân Việt Nam được quan tâm đến như vậy. Họ vẫn thường xuyên đơn độc, đối đầu với gió to, sóng dữ, bão tố, kể cả chuyện bị săn đuổi, tấn công, bị đánh, cướp, tàu bị đâm chìm.
Ông Nguyễn Thanh Thu, ngụ tại Quảng Ngãi, chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu đánh cá mang số hiệu QNg 95348, bị đâm chìm giữa biển, vào lúc rạng sáng ngày 19 tháng 5, kể:
“Tàu chìm hẳn trong khoảng 15 phút, anh em chúng tôi bơi miết cho đến 6 giờ sáng rồi có một chiếc thúng vớt chúng tôi lên. Chúng tôi kêu các tàu ở gần đến cứu…
Phóng viên Trần Văn hỏi, “Mình có hải quân, có cảnh sát biển, có biên phòng, việc tuần tra trên biển như thế nào? Trong những trường hợp tàu lạ đâm chìm tàu đánh cá, tàu hàng của mình…”
Ông Nguyễn Thanh Thu đáp, “không thấy tầu hải quân Việt Nam đâu cả, không thấy có tầu nào đến cứu ngư dân Việt Nam cả.”
Trân Văn: “Rồi cảnh sát biển làm gì?” Nguyễn Thanh Thu: “Tàu cảnh sát biển cũng không có… Chúng tôi gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó tới cứu chúng tôi và sau đó tôi phải thuê một cái ghe chở 26 lao động vào trong đất liền.”
Việc xảy ra với ông Nguyễn Thanh Thu không phải là cá biệt. Vợ của thuyền trưởng một tàu đánh cá ở Đà Nẵng, tâm sự: “Ở ngoài biển phần ai nấy biết chứ mô có ai bảo vệ. Bảo vệ giới hạn vào việc biên phòng ở trong bờ gọi ra nhắc chừng, bảo là Đài báo bão, kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi chứ không có ai bảo vệ hết.”
Với thực tế như người ta đã biết, việc chính quyền và quân đội Việt Nam cử đến bốn tàu hải quân để tìm kiếm hai tàu đánh cá, vì tầu cá là của ngư dân Trung Quốc. Minh thì không được. Tại sao?
Một số người chua chát phỏng đoán có thể là vì chính quyền Việt Nam thực sự muốn chứng tỏ thiện chí thực hiện phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt, bất kể thái độ của Trung Quốc thế nào.
Nhiều người mỉa mai nhắc lại lời Nguyễn Minh Triết phát biểu tại Hà Giang – một trong những tỉnh giáp với Trung Quốc là, “Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa là số một! Phải làm sao giữ mãi, trân quý mãi. Dù có gặp khó khăn, có gặp những vấn đề gì trở ngại thì hãy đoàn kết, thân ái với nhau. Trao đổi để tìm ra cái giải pháp khắc phục! Hai bên biên giới phải là hai bên biên giới hữu nghị. Nhân dân hai bên phải thực sự đoàn kết!”
Họ cũng nhắc thêm trò hề Triết ôm Fidel Castro rồi nói, “có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.”
Họ mỉa mai là trong khi Việt Nam và Cuba đang canh giữ hòa bình cho thế giới thì tại biển Đông, ngư dân Việt Nam vẫn khổ sở, âu lo, chấp nhận mọi nguy hiểm khi kiếm sống trên vùng biển vốn thuộc chủ quyền xứ sở của mình.
Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, thắc mắc: “Tôi thường gặp tầu cá Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng chưa nghe Trung Quốc bắt tầu cá của các nước ấy. Nó bắt Việt Nam mình không à; đó có phải là hệ quả của việc duy trì, phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em để cùng canh giữ hòa bình cho thế giới chăng?”
Một độc giả, anh Trung ở Sài Gòn góp ý vào bài tường thuật, “Tôi cảm thấy buồn cho đất nước tôi, với những nhà lãnh đạo ăn nói thiếu chin chắn.
Anh Nguyễn Tiền Phương, một độc giả khác cũng đang sống trong quốc nội, nói, “Ông Nguyễn Minh Triết là tôi thấy nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam đi ra nước ngoài.”
Anh Hỗn Cảm, gửi thư từ Sweden cho RFA, viết, “… theo dõi tin tức Biển Ðông mà thấy giận nghẹn lên được; nhiều khi tôi muốn ôm bom đi vào công trường Ba Ðình làm cho mọi thứ, mọi người nổ tung cho mất hết dấu tích nhục nhã.”
Anh Phước từ Hoa Kỳ góp ý, “Dân chài Trung Quốc gặp nạn thì nhà nước VN ra sức tìm kiếm, tại vì Trung Quốc ra lệnh...Còn dân chài VN gặp nạn mà nhà nước VN không giúp là tại Trung Quốc chưa ra lệnh, có đúng không qúi vị....hèn quá
Web site mở rộng cho mọi người cùng đọc, đố ai trả lời được xem Việt Cộng có đọc không, mà chúng vẫn đặt chữ tình trên chữ nghĩa trong câu đề tựa của anh Trần Văn “Tinh hữu nghị, nghĩa đồng bào”.
Nguyễn Ðạt Thịnh
|
|
|
|
|
|
 |
    |
 |
ThienThu

Joined: 30 Oct 2008
Posts: 182

|
|
Sinh vì kinh tế, diệt cũng vì kinh tế
Ngô Nhân Dụng
Chủ nghĩa Cộng Sản ra đời từ những phân tích về kinh tế tư bản của Karl Marx. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Âu Châu xóa tan giấc mộng hão huyền do Marx gợi ra và được Lenin cùng Stalin xây dựng, cũng bắt nguồn từ lý do kinh tế. Khi các người theo chủ nghĩa cộng sản chỉ tìm cách thủ tiêu lẫn nhau thì chủ nghĩa đó vẫn còn sinh khí. Khi các đồng chí quay ra hối lộ, mua chuộc nhau bằng tiền mặt, thì tòa lâu đài trên cát đã sụp ngay từ nền tảng.
Cuộc chạy đua giữa hai khối tư bản và cộng sản chấm dứt vào năm 1989 không phải vì các tư tưởng tự do đã chinh phục được mọi người và thắng ý thức hệ Mác xít. Cũng không phải vì hệ thống chính trị dân chủ đã đánh bại hệ thống độc tài đảng trị. Thế thắng bại sau cùng được quyết định trong cuộc chạy đua giữa hai lối tổ chức kinh tế khác nhau.
Cuối cùng thì mô hình tổ chức xã hội từ trên xuống dưới kiểm soát toàn dân đủ mọi mặt, với nền kinh tế hoạch định tập trung, đã chịu thua cách tổ chức xã hội theo lối tự do dân chủ với quyền lực phân phối tản mạn, cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, và nền kinh tế thị trường năng động.
Ðặc tính quan trọng nhất là trong thế giới gọi là tự do, hoặc gọi là tư bản, quyền quyết định sau cùng là từ dưới lên trên. Hàng triệu người tiêu thụ, hàng triệu các cử tri vô danh có khả năng ảnh hưởng trên những người nắm quyền cao nhất trong các xí nghiệp và các guồng máy nhà nước. Họ được bảo đảm có khả năng và cơ hội sự dụng quyền gây ảnh hưởng này, trong việc mua bán và hành động bỏ phiếu. Có người gọi mô thức đó là “xã hội mở” (open society). Có người gọi đó là một hệ thống bảo đảm sự “tham dự đồng đều” (equal access). Chính nhờ tính chất cởi mở và mọi người tương đối có cơ hội bằng nhau đó cho nên kinh tế ở các nước tư bản đã phát triển, trong khi các nước cộng sản thì trì trệ.
Nếu hệ thống kinh tế chỉ huy và tập quyền có khả năng phát triển lâu dài thì chắc chế độ độc tài đảng trị vẫn còn tồn tại rất lâu. Nikita Kruschev tin vào khả năng đó khi ông đe dọa năm 1961 rằng, “Chúng tôi sẽ chôn vùi các anh!” Khi Liên Xô đưa tiền nuôi các đảng cộng sản đang thành hình, vũ trang các phong trào giải phóng khắp thế giới, viện trợ cho các nước chư hầu, và khi họ phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, tất cả đều là cảnh phô trương sức mạnh kinh tế của hệ thống cộng sản. Nhưng cuối cùng, niềm tin đó bị sự thật kinh tế phủ nhận.
Bởi vì, trái với hình ảnh “như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra,” kinh tế các nước cộng sản ngày càng suy yếu vì sau khi các nhà máy và đồng ruộng được tập thể hóa, những người lao động, người nông dân không còn động cơ tự nhiên để tìm cách sử dụng tài nguyên theo lối có hiệu quả cao nhất nữa. Bây giờ, nhiều người cộng sản ở nước ta giải thích rằng hệ thống chỉ huy tập trung của họ “trái với các quy luật kinh tế.” Thực ra, chỉ nhìn qua cũng thấy là nó trái với bản tính của con người.
Trong phần kết luận cuốn hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông vẫn bám lấy niềm tin tưởng vào chủ nghĩa, vẫn hy vọng có một phép lạ nào đó giúp cho giấc mộng cộng sản có ngày thành sự thật. Ông viết, “Bác Hồ dạy muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa.” Ông khen cái khẩu hiệu đó là “chí lý” đồng thời lại nhìn ra, “nhưng khó lắm.” Ông chỉ không có can đảm thú nhận rằng tất cả chủ nghĩa đó chỉ là những ảo tưởng vì con người, loài người không thể sống như vậy. Một nền kinh tế tập thể hóa có thể đạt được những thành công trong bước đầu vì cưỡng bách tích lũy tài nguyên để sử dụng. Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài vì năng suất của cả hệ thống ngày càng giảm, một quy luật kinh tế mà chính Karl Marx đã nhìn thấy trong kinh tế tư bản. Cán bộ ở trung ương có thể hoạch định bằng các con số nhưng không thể bảo các công nhân làm việc để cải thiện sản phẩm. Họ cũng không thể đoán trước sẽ phải sản xuất cái gì phù hợp với nhu cầu của hàng triệu con người, không biết làm cách nào để nâng cao phẩm chất và sản xuất với chi phí ít tốn kém nhất. Chỉ có hệ thống thị trường tự do và phân tản mới có cơ hội thí nghiệm các sản phẩm mới, các phương pháp chế tạo mới, và dò dẫm tìm ra sở thích của hàng triệu người tiêu thụ để làm thỏa mãn họ. Chỉ trong hệ thống thị trường tự do mới có các doanh nhân chấp nhận rủi ro làm các cuộc thí nghiệm như vậy. Hệ thống kinh tế chỉ huy không chấp nhận rủi ro, mà cũng không quan tâm đến sở thích của mọi người. Có thể hàng hóa làm ra “như nước chảy” nhưng không ai muốn mua, không muốn sử dụng.
Yegor Gaidar, một nhà kinh tế đã giữ các chức vụ bộ trưởng và thủ tướng ở Nga sau khi chế độ xô viết sụp đổ đã giải thích sự sụp đổ của chế độ với hai nguyên nhân chính: Lúa và Dầu lửa. Ông viết cuốn sách với nhan đề “Sự sụp đổ của một đế quốc” sau khi tìm trong văn khố những tài liệu cho thấy sự tan rã của đế quốc Liên Xô là do bế tắc kinh tế. Giới lãnh đạo Liên Xô phải bỏ mặc cho các nước Ðông Âu tự giải thoát và những người làm đảo chính Tháng Tám năm 1991 sau cùng đành chịu quy hàng, tất cả đều vì kinh tế không lối thoát.
Trước hết là vấn đề thực phẩm. Trước cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, Nga là nước xuất cảng lúa mì. Chính sách tập thể hóa lúc đầu nâng cao sản xuất nhưng sau đó đã giảm dần so với dân số các thành phố tăng lên. Từ năm 1963 Kruschev đã phải ngưng bán rẻ thóc lúa cho các nước chư hầu, vì chính Liên Xô hàng năm phải nhập cảng thực phẩm. Nhu cầu nhập cảng ngày càng tăng lên mà ngoại tệ mạnh không có vì hàng chế hóa phẩm chất thấp quá không thể xuất cảng được, trừ khi đem trao đổi với các nước chư hầu. Một điều may mắn cho chế độ là nước Nga có một tài nguyên quý giá là dầu lửa. Từ giữa thập niên 1970 giá dầu lửa trên thế giới tăng bốn lần, trở thành nguồn ngoại tệ mạnh giúp Nga mua thực phẩm. Cũng giống như ở các nước chỉ sống nhờ xuất cảng nguyên liệu, giới lãnh đạo Nga ỷ lại vào nguồn tài nguyên đó và không cần nghĩ đến việc cải thiện hệ thống sản xuất ngày càng trì trệ. Nhưng dầu lửa là một món hàng giá cả thất thường, tăng lên tới 140 đô la một thùng rồi lại xuống có khi chỉ còn 20 đô la. Năm 1985, khi Á Rập Sau Ði quyết định bơm dầu lên không hạn chế, giá dầu tụt xuống khiến mỗi năm Nga thiệt mất 20 tỷ Mỹ kim, ngoại tệ sở hữu dần dần đi tới khánh kiệt, phải vay các ngân hàng Tây phương càng ngày càng nhiều. Ðồng thời, Nga bắt đầu bắt các nước chư hầu ở Ðông Âu khi mua dầu phải trả theo giá thị trường quốc tế. Mối liên hệ kinh tế quan trọng nhất trong đế quốc Liên Xô bị cắt đứt.
Năm 1989, Mikhail Gorbachev được ngân hàng Deutsche Bank báo cho biết không thể cho vay nữa vì kinh tế Nga hầu như tê liệt. Chỉ còn một cách là hỏi trực tiếp các chính phủ Tây phương để họ giúp bảo đảm các món nợ của ngân hàng nước họ. Nếu không vay được 100 tỷ Mỹ kim thì nước Nga, nhất là ở các thành phố sẽ có nạn đói.
Biết tình trạng suy yếu kinh tế ở Nga cho nên giới lãnh đạo cộng sản ở Ba Lan, rồi đến Ðông Ðức và Tiệp Khắc đã thay đổi, không còn cương quyết đàn áp dân chúng như cũ nữa. Họ biết rằng Hồng Quân Nga không thể đến cứu họ được khi dân nổi dậy như ở Hungary năm 1956, ở Tiệp năm 1968. Liên Xô không thể đem thiết giáp qua “dẹp loạn” ở các nước chư hầu, vì sợ một hành động như vậy sẽ chấm dứt luôn hy vọng vay được 100 tỷ Mỹ kim để nhập cảng lúa gạo.
Trong tình thế đó, Phong Trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan đã vùng lên, giới trí thức ở Tiệp Khắc công khai đòi dân chủ tự do, người Ðông Ðức chạy tị nạn sang phía Tây ào ạt. Và trong Tháng Mười 1989, khi hàng trăm ngàn dân chúng thành phố Leibzig từ nhà thờ Thánh Nikolai kéo ra xuống đường, chính đám công an xung phong đã buông súng, không bắn vào người dân nữa. Khi Chủ Tịch Gorbachev gặp Tổng Thống Bush ở Malta Tháng Năm, năm 1989, một đề tài chính là vay nợ. Sáu tháng sau, không còn một chế độ cộng sản nào ở Ðông Âu nữa.
Có thể nói, việc các ngân hàng như Deutsche Bank từ chối không cho chính phủ Liên Xô vay đã góp phần giải phóng các dân tộc ở Ðông Âu khỏi ách cộng sản.
Khi tiên đoán một xã hội mới sẽ ra đời sau khi giới vô sản chiếm chính quyền, Karl Marx dùng một thước đo để quả quyết tính chất ưu việt của chế độ mới, là “năng suất lao động” sẽ lên cao nhờ các công nhân làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất. Cộng sản sẽ chôn vùi Tư bản chính vì phép mầu“năng suất lao động.” Nhưng Marx chỉ quan tâm đến quyền sở hữu mà nói gì về phương pháp quản trị các phương tiện sản xuất. Ông sống trong một thế giới kinh tế trừu tượng. Trong cả cuộc đời, ông không bén mảng đến các nhà máy, càng không biết gì về phương pháp quản trị sản xuất. Môn quản trị học đến thế kỷ sau mới ra đời, sau những thí nghiệm của Henry Ford. Cho nên Marx không quan tâm nghiên cứu xem làm như thế nào để tăng “năng suất lao động.” Các lãnh tụ cộng sản từ Lenin đến Fidel Castro cũng đều như vậy. Họ nghĩ rằng cứ bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân, thay thế bằng sở hữu công cộng là xong hết.
Những con người lơ mơ không tưởng đó chỉ gỏi nghề cướp chính quyền và kiểm soát chặt chẽ người dân bằng bạo lực và dối trá. Cuối cùng, cả hệ thống cộng sản đã sụp đổ vì lối làm kinh tế đó không chạy.
|
|
|
|
|
|
| |
    |
 |
doluoi

Joined: 01 Nov 2009
Posts: 4
|
|
Đừng Coi Thường Các Dấu Hiệu Báo Trước.
Đỗ Văn Phúc
Chiều thứ Năm, 5 tháng 11, 2009, một vụ thảm sát tại Fort Hood gây một chấn động lớn trên toàn nước Mỹ. Fort Hood, cách thủ phủ Austin của Tiểu bang Texas chừng 40 dặm, là một căn cứ quân sự lớn nhất Hoa Kỳ. Đây là nơi đồn trú thường trực của hơn 60000 quân nhân lục quân, là nơi chuẩn bị quân số để tăng cường cho các chiến trường Afganistan và Iraq.
Thiếu tá Nidal Malik Hasan, theo Hồi giáo, đã bắn hơn 100 viên đạn để giết chết 12 quân nhân và làm bị thương 32 người khác khi những người này đang có mặt tại một Trung Tâm Y Khoa, nơi Hasan là bác sĩ tâm lý có nhiệm vụ chuẩn bị tinh thần cho binh sĩ trước khi lên đường tham chiến ở Trung Đông vào cuối tháng 11 này.
Cũng như ba vụ thảm sát tại Đại Học Texas ngày 1 tháng 8, 1966, Trung Học Columbine ngày 20 tháng 4, 1999 và Đại học Virginia Tech ngày 16 tháng 4, 2007, mà ba thủ phạm Charles Joseph Whitman, Dylan Klebold, và Seung Hui Cho đã cướp đi mạng sống của tổng cộng 58 nguời; người ta chỉ nhắc đến các dấu hiệu báo trước liên quan đến bọn sát nhân sau khi thảm kịch đã xảy ra.
Các dấu hiệu báo trước này (warning signs) đã được gia đình, bạn bè phát giác từ những trang blogs, các điện thư, các đoạn băng ghi hình, nhật ký, sự chuẩn bị… mà các thủ phạm đã biểu lộ hàng tuần, hàng tháng trước khi hành động. Người ta cũng nhắc đến các hiện tượng tâm lý bất thường của hung thủ. Trong vụ Fort Hood, thì người ta đã đưa ra những đoạn văn mà Hasan đã ca tụng bọn khủng bố Ả Rập là anh hùng.
Nhưng có lẽ những chuyện này bị coi là “chuyện nhỏ”, nên người ta đã không quan tâm đến, cho đến khi nổ ra chuyện lớn làm chết hàng loạt người một cách oan ức.
Trong đấu tranh chính trị, ngoại giao, hay chiến tranh quân sự, nhiệm vụ các cơ quan tình báo và an ninh là theo dõi, phát hiện kịp thời những hành vi, dự mưu, khuynh hướng mà có thể dẫn đến hành động đối nghịch. Ngay cả trong lãnh vực pháp luật, tuy chưa kết tội khi chưa có phán quyết của Toà với bằng chứng cụ thể; các cơ quan FBI, Cảnh Sát cũng phải tìm cách ngăn ngừa ngay khi có những phát hiện sơ khởi của tội phạm.
Người có thẩm quyền không chỉ theo dõi những kẻ bất mãn, mà còn lưu tâm đến những người quá tích cực. Phải tìm hiểu cho thấu đáo cái động cơ nào đã khiến họ bất mãn, tiêu cực hay sốt sắng, tích cực quá mức mong đợi. Kinh nghiệm cho thấy những gián điệp giỏi, biết luồn sâu, lách kín vào tổ chức đối phương thường tỏ ra “bảo hoàng hơn vua”, tạo ra nhiều thành tích công trạng sáng chói để ngoi lên trong giới lãnh đạo trước khi thực hiện mưu đồ. Huỳnh Văn Trọng leo đến chức Cố Vấn của Tổng Thống, Phạm Ngọc Thảo được tin cẩn giao cho làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà, Phạm Ngọc Ẩn có nhiều uy tín trong báo giới với cả phiá Hoa Kỳ lẫn Việt Nam. Ai dám nghi ngờ những người này là phe địch trước khi cơ quan an ninh có đủ bằng cớ để quy tội họ là gián điệp Cộng Sản. Đại tá Truyền Tin Nguyễn Văn Tý bán khoá đối chứng (mật mã truyền tin dùng trong Quân Lực VNCH) cho Việt Cộng bao nhiêu năm dài, làm lộ bí mật các cuộc hành quân dẫn đến nhiều thiệt hại trầm trọng cho quân ta.
Bỏ qua việc ông Dương Văn Hiệp và bà Lưu Lệ Ngọc từng đi về Việt Nam, đi thoải mái từ Nam ra Bắc với dự tính “thiết lập chi nhánh đài VNHN tại Việt Nam”, thì việc giao tiếp của họ với cán bộ Việt Cộng đã bị phanh phui từ hơn tháng qua là một đề tài rất đáng lưu ý. Nhất là sự giải thích gượng ép và bất nhất của họ càng không thể chấp nhận được.
Trong một lá thư của ban Giám Đốc đài VNHN ngày 20 tháng 9, 2009 có đoạn viết:
“… Trong buổi tiệc mừng sinh nhật chị Lưu Lệ Ngọc vào năm 2007 tại nhà hàng Hee Been ở Virgnia, một người bạn trong nhóm thân hữu đã đi cùng với 2 nhân viên tòa đại sứ Việt Cộng đến tham dự. Anh chị Dương Văn Hiệp đã không mời những người này….”
Rồi sau đó, cũng những vị này giải thích là tiếp xúc với VC để chiêu hồi (Thư từ chức của ông Hiệp và bà Lệ Ngọc ngày 15 tháng 10, 2009) như sau:
“… chúng tôi phải tiếp xúc với đủ mọi thứ người, nếu chúng tôi có phải tiếp xúc với DU HỌC SINH, với CÁN BỘ VIỆT CỘNG, là để TRANH LUẬN, là để GIÁO DỤC, là để TÌM HIỂU.. .hầu lấy đủ kiến thức thông tin…”
Thông thường, những tiệc tất niên, tân niên, sinh nhật là dành hạn chế cho gia đình, bạn bè thân thiết. Nếu ai đó vì lòng tham, muốn có thêm quà cáp; hay muốn chứng tỏ mình là người có tiếng tăm, giao thiệp rộng; thì cũng chỉ mời rộng thêm ra trong thân hữu, hay có quan hệ xã hội như đồng nghiệp, đồng hội, các lãnh đạo hội đoàn, hàng xóm… Khó có thể thông cảm được sự có mặt của những kẻ thù mà mình ghê tởm và hàng ngày lên án trong cái không khí ấm cúng thân thiện của các buổi tiệc gia đình như đã nói.
Đặc biệt, việc chiêu hồi, lấy tin là công tác của các điệp viên của những tổ chức chính đảng hay mặt trận đang đấu tranh. Các công tác này không thể là việc của những cá nhân cho dù giỏi đến mấy, và đang hoạt động trong lãnh vực nào.
Điều đáng buồn là đã có nhiều anh chị em trong tập thể cựu quân nhân, cựu tù nhân, cộng đồng đương nhiệm đã vì lý do nào đó mà lên tiếng bênh vực cho những việc làm sai trái này của hai vợ chồng ông Hiệp.
Một cách chính thức, ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch Cộng Đồng Hoa Thịnh Đốn, đã ra một thông cáo (ngày 5 tháng 11, 2009) coi như “huề cả làng”
Trong thông cáo có đoạn viết:
“Không thể chấp nhận trong lúc này bất cứ một cuộc tiếp xúc, giao du nào giữa người Việt quốc gia với cán bộ CSVN duới bất cứ hình thức nào, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, với bất cứ lý do gì và trong bất cứ tình huống nào”
Dù là người ít học nhất, chúng tôi cũng hiểu ông Đỗ Hồng Anh sẵn sàng bỏ qua những việc giao tiếp với VC trong quá khứ, và có thể trong tương lai; mà chỉ “không chấp nhận trong lúc này”, tức vào thời điểm ông ra thông cáo 5/11/2009.
Ông Đỗ Hồng Anh đem thành tích của đài trong 12 năm qua để bảo đảm cho lập trường của ban Giám Đốc, mà ông quên rằng người ta chỉ nhắc đến vài cá nhân trong Ban Giám Đốc đã có hành vi ngược lại quan điểm của người Việt Tị nạn. Người ta không vơ đũa cả nắm tố cáo hết cả ban Giám Đốc nói riêng hay cả hệ thống đài VNHN nói chung. Tôi không rõ là những người bạn của ông Nguyễn Cao Kỳ có thể mượn cách lý luận này để bào chữa cho việc ông Kỳ giao du với Việt Cộng không?
Trong một đoạn đánh số 2, ông Đỗ Hồng Anh cho rằng “cho đến nay không thấy có một hậu quả nào có thể gọi là làm lợi cho CSVN và gây nguy hại cho công cuộc đấu tranh của người Việt quốc gia chúng ta”
Làm chính trị là tiên liệu. Đằng này triệu chứng đã phơi bày mà không có biện pháp ngăn ngừa; lại muốn chờ cho đến khi tai họa xảy ra mới thừa nhận thì than ôi! lại một lần thảm bại nữa!
Khi đọc đến phần chót, ông Đỗ Hồng Anh “Kêu gọi đồng hương và các hội đoàn hãy đề cao cảnh giác trước những âm mưu thừa nước đục thả câu, đánh phá cùng xúi giục các hội đoàn và cá nhân trong cộng đồng người Việt quốc gia nhằm triệt hạ uy tín và làm sụp đổ các cơ quan truyền thông là nơi có những tiếng nói chống cộng hữu hiệu để dọn đường cho công cụ tuyên truyền của CSVN xâm nhập và lũng đoạn hàng ngũ người Việt quốc gia theo Nghị Quyết 36 của chúng. “
Chúng tôi không khỏi không liên tưởng đến cách chụp mũ mà Cộng sản đã sử dụng trong chính sách cai trị, răn đe của chúng đối với công dân hay những người đối lập. Đối với chúng, quốc gia bị đồng hoá với đảng Cộng sản, nói trắng ra, đồng hoá bọn lãnh đạo đảng. Đảng là trên hết, đảng là tổ quốc vì “yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã Hội”, là chấp nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, là vân vân và vân vân. Người dân nào lên tiếng phê bình chính sách hay nhân sự của đảng đều bị coi là chống lại đất nước, là “xâm phạm an ninh tổ quốc”.
Chẳng rõ ông Đỗ Hồng Anh có dám coi nhân sự của đài VNHN và nhân sự của Ban Chấp Hành Cộng Đồng là toàn hảo không, là không hề làm điều gì sai không? Và ông Anh có đủ bản lãnh dân chủ để đón nhận sự phê bình của người khác không? Hay hể ai đụng đến nhân sự của ông đều là hành vi mà ông gọi là “đánh phá”, “xúi dục” “nhằm triệt hạ uy tín” của các tổ chức mà ông bao che? Ông Anh cần lưu ý, là những người phê bình chỉ nhắm vào các thái độ, hành vi chính trị của những vị này. Đây là điều rất đáng khuyến khích và rất cần có trong một xã hội dân chủ.
Thưa ông Đỗ Hồng Anh, khi lên tiếng về việc giao du của vài nhân vật lãnh đạo trong đài VNHN, là chúng ta đã ngăn chặn sự “dọn đường cho công cụ tuyên truyền của CSVN xâm nhập” như ông đang lo ngại đấy. Còn việc lũng đoạn hàng ngũ người Việt quốc gia, là do ý thức của mỗi người – trong đó có ông và có tôi - biết tự chế, không để tình cảm cá nhân làm mờ lý trí, lạc hướng nhận thức về mối hiểm họa chính trị tương lai rất cận kề; làm cho chúng ta quay ra đánh phá nhau bằng những moi móc cá nhân nhỏ nhen trong khi dung dưỡng những hành vi sai trái. Nghị quyết 36 của Việt Cộng chỉ có thể thành công khi còn có những người lãnh đạo trong hàng ngũ Quốc gia quá ngây thơ, nhận thức non nớt và thiếu bản lãnh, kinh nghiệm đối phó.
Rất nhiều người đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên sau khi đọc bản thông cáo của ông Chủ Tịch Cộng Đồng vùng Hoa Thịnh Đốn. Chúng tôi thật tình không rõ trong cuộc đấu tranh chống Cộng, hai chân ông Chủ tịch đang đứng ở phía bên nào? Xin ông chọn một bên, bên nào cũng được, dứt khoát và rõ rang. Còn cứ đứng dạng hai chân hai bên thì vừa mỏi chân vừa có ngày ngã đau.
|
|
|
|
|
|
| |
    |
 |
nangchieu

Age: 56
Joined: 19 Apr 2009
Posts: 175

|
|
Đất nước bao giờ... loạn thế này chăng?
Hoa Lan
Việt Nam, đất nước luôn tự hào có nền an ninh chính trị ổn định, một đất nước đứng hàng "top 5 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới", đất nước của những "rừng vàng -biển bạc", của "đỉnh cao trí tuệ loài người", đất nước có "chân lý sáng ngời"...còn và còn nhiều lắm những ngôn từ mỹ miều nói về cái hay, cái đẹp, cái lấp lánh của đất nước tôi, Việt Nam.
Đất nước với đầy những mỹ từ bay lượn khắp trời là vậy, nhưng sao mỗi lần thốt ra khỏi miệng những cụm từ ấy lại thấy lố bịch thế nào trong nhận thức của chúng tôi hôm nay. Một đất nước mà nhà thơ Nguyễn Duy đã đưa ra một nhận định không còn có thể chính xác hơn là "đói niềm tin, bội thực tự hào"! Nhưng dường như những ngôn từ mỹ miều bay lượn khắp trời đó không thể che đậy được những nghịch lý, mảng tối đang tàn phá dần sức sống của dân tộc này.
Chúng ta đang chứng kiến sự rối loạn ngay từ những người nắm quyền điều hành luật pháp. Người đứng đầu chính phủ liên tục ra những quyết định mà giới trí thức đã chỉ rõ ràng là vi hiến và phạm luật. Điển hình là quyết định về dự án bauxite, gần đây là quyết định 97 về phản biện, ông bộ trưởng tư pháp bị chỉ ra là đã ngụy biện trong cách giải thích nội dung của nghị định này. Tòa án tối cao thậm thò thậm thụt trong việc nhận và trả lời đơn thư khiếu nại của một công dân. Các cơ quan công quyền liên tục "nhầm lẫn" về khái niệm về công - tội, yêu nước - phản quốc. Người yêu nước thì bị xem là "vi phạm an ninh quốc gia" và phải chịu hình phạt, tù tội. Kẻ xâm phạm an ninh quốc gia chỉ bị khiển trách, phạt cho có lệ khi không thể tránh né được trước dư luận quần chúng. Kẻ tham nhũng trộm cắp lại được xem là đã có nhiều thành tích cống hiến, có nhân thân - thân nhân tốt để được giảm án, người chống tham nhũng trở thành kẻ vu khống phạm tội...
Một nhà nước tự hào với "chân lý sáng ngời" vẫn mãi loay hoay đối phó với những người yêu nước, giới trí thức hay những người tu hành, những đoàn dân oan! Gần đây nhất với định 97 nhằm giới hạn, hay nói chính xác là xé lẻ để dẹp tan những ý kiến phản biện của giới trí thức. Cách đây vài hôm đến lượt "Tia Sáng" hiếm hoi của giới trí thức trong nước bị dập tắt!
Nguy hiểm hơn, chúng ta đang chứng kiến sự lộng hành của cách hành xử vô luật pháp trong cách giải quyết những xung đột, mâu thuẫn. Những vụ bắt bớ những người bất đồng chính kiến diễn ra một cách thiếu minh bạch, thậm chí tỏ ra lén lút. Những cuộc bố ráp đêm hôm nhằm ép buộc những người dân oan trở về quê... Bất kể bản chất đúng sai từ những đối tượng bị bắt hay bị bố ráp, cách hành xử ấy khiến người ta cảm thấy vô luật pháp, vô trật tự và...loạn.
Gần đây hơn, chúng ta thấy một hiện tượng không bình thường. Một dân tộc với 4000 năm văn hiến vốn được xem là rất hòa hiếu, nhân hậu. Giờ đây thường xuyên xuất hiện những đám "quần chúng tự phát" thể hiện những hành vi côn đồ vô tiền khoáng hậu, chúng thay mặt nhà cầm quyền để giải quyết những xung đột mà chúng cho là "chống lại đảng, chống lại nhân dân". Những đám "quần chúng tự phát" này được trao những quyền hành lạ đời, chúng được tự do kéo đến đập phá nhà thờ, tu viện, chùa chiền, tự do hô hào giết người này, chém người nọ. Chúng được tự do hành hung người khác bằng gậy gộc, nắm đấm và cả bằng... phân, bất kể họ là những linh mục, hòa thượng, tăng ni hay giáo dân! Điều lạ đời là việc làm của chúng lại diễn ra ngang nhiên trước sự chứng kiến của lực lượng an ninh.
Đất nước tươi đẹp, con người thân thiện giờ đây được "điểm tô" bởi hình ảnh của những hòa thượng, những linh mục với thân thể bầm dập đầy máu, hàng trăm tăng ni bị xô đẩy, lôi kéo, bị tống khứ ra khỏi nơi tu hành và bước đi dải dầu ngay trong mưa bão như những kẻ tội đồ! Những kẻ ngông cuồng như đang lên đồng tập thể bằng những lời nói và hành động không thể chấp nhận được nơi chốn tu hành.
Một đất nước sáng ngời chân lý, tôn trọng pháp quyền lại đang chứng kiến cảnh từng đoàn người công giáo, trong đó không ít những người ngoại đạo nghẹn ngào cất cao lời kinh nguyện cầu một cách kiên nhẫn cho công lý và hòa bình sớm đến trên quê hương. Những tăng ni trẻ sẵng sàng ký vào huyết thư tử vì đạo pháp. Hàng đoàn người dân dãi dầu sương gió, nằm đường ngủ bụi kêu oan từ năm này sang năm khác mà chẳng nhận được hồi âm.
Tôi đang sống trong một đất nước được dẫn dắt bởi những kẻ dám đại ngôn tự xưng là "đỉnh cao trí tuệ loài người", hay tự nhận lấy vai trò "canh giữ hòa bình cho thế giới". Nhưng hỡi ôi, tử thần vẫn đang rình rập cướp đi sinh mạng của bao người dân quê tôi bởi lối điều hành quốc gia hết sức thiển cận và vô trách nhiệm của họ. Dường như ông trời đang muốn phơi bày tất cả những yếu kém của những kẻ đại ngôn này bằng liên tiếp những thiên tai vừa qua. Bão tố là thiên tai, nhưng đất nước này không phải dạo gần đây mới đối diện với thiên tai. Nhưng có vẻ như mức độ tàn phá của nó thì ngàng càng kinh khiếp! "Bão không chỉ đến từ trời", có ai đó đã nói rất đúng như vậy.
Đảng là giai cấp tiên phong, là đội quân tiên phong trong mọi mặt trận, lãnh đạo - xây dựng - bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên giờ đây, ngư dân quê tôi sẽ được khoát lên mình chiến y để chuẩn bị... nhuộm máu và bọc xác của họ. Bởi giờ đây, trong những ngày lênh đênh trên biển, họ phải tìm kiếm mưu sinh cho cuộc sống của người thân bằng tay lưới và bảo vệ... quân đội, bảo vệ đảng dưới danh nghĩa bảo vệ lãnh thổ cha ông bằng tay súng còn lại!
Xót xa, cả dân tộc Việt Nam đang oằn mình sống trong một đất nước đầy nghịch lý, tối tăm. Những chân giá trị cơ bản của nhân loại như nhân quyền - tự do - ấm no - hạnh phúc - công bình - bác ái... đang bị xô lệch đến mức khó nhận ra. Một đất nước mà cuộc sống người dân luôn chìm ngập trong lo âu, sợ sệch, toan tính, con người ta phải nói những điều không phải từ con tim của chính mình, giới trí thức bị ép buộc phải câm lặng. Nơi mà những nhà tu hành bị ngược đãi đánh đập đến đổ máu, bị xua đuổi ra khỏi nơi tu hành, chùa chiền - nhà thờ bị đập phá... những hiện tượng đó phải chăng đang báo hiệu một điều gì?
|
|
|
|
|
|
 |
    |
 |
dodom

Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

|
|
Những thiên đường mù tan rã
Ngô Nhân Dụng
Trước đây 20 năm, năm 1989, những chế độ cộng sản do Lênin và Stalin dựng lên đã nhanh chóng sụp đổ khắp Âu Châu, như những lâu đài do trẻ em đắp lên bằng cát trên bãi biển bị sóng trào xóa mất. Nhưng hai mươi năm sau khi bức tường Berlin bị đập vỡ, khi nhìn lại, điều làm chúng ta ngạc nhiên không phải là tại sao chủ nghĩa Cộng Sản đã bị xóa bỏ nhanh đến thế. Ðáng ngạc nhiên hơn nữa là tại sao các chế độ Cộng Sản lại sống được lâu như vậy, hơn 70 năm ở Nga và 40 năm ở các nước Ðông Âu? Và sau khi loài người biết rõ sự thật, chúng ta còn thắc mắc tại sao những ý nghĩ không tưởng đến mức điên rồ như vậy lại thu hút được hàng trăm triệu người tin theo trong hơn một thế kỷ để gây tội tình khổ ải cho hàng tỷ người khác, trong đó có hàng trăm triệu người bị chết oan chỉ vì những chính sách kinh tế không tưởng? Ðó là những câu hỏi đáng suy nghĩ trong tuần lễ đầu tháng Mười Một này. Ðặc biệt là cho những người nạn nhân của chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Chúng ta sẽ bắt đầu bàn về câu hỏi thứ hai.
Năm 1975 khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, các cán bộ quản giáo lên mặt giảng về “chủ nghĩa Mác Lê nin vĩ đại.” Những người miền Nam phải bó tay, buông súng vì hết đạn năm đó, không ai có thể ngờ rằng chưa đầy 15 năm sau chính họ mới là kẻ cuối cùng lại chiến thắng trên mặt trận tư tưởng; còn những kẻ huênh hoang về những “dòng thác cách mạng” mới thất bại ê chề! Cái chủ nghĩa “bách chiến bách thắng” của họ hiện nguyên hình chỉ là những ảo tưởng do các lãnh tụ độc tài vẽ vời, lợi dụng để nô lệ hóa các đảng viên và dân chúng. Một nửa loài bị bịt mắt, buộc phải sống trong “những thiên đường mù,” như một ẩn dụ của Dương Thu Hương, cho tới khi những thiên đường đó tự tan ra thành mây khói.
Một bạn trẻ người Long Xuyên năm 1978 sắp đến tuổi phải đi bộ đội để được đẩy sang chết ở chiến trường Campuchia, đã được cha mẹ cho đi vượt biên. Vượt biển bất thành, anh bị một cán bộ trong tỉnh, tuổi vào hàng cha chú mắng một trận. Ông cán bộ dọa: “Anh đừng tưởng anh chạy sang Thái Lan, sang Mỹ là thoát nhé! Bánh xe Cách mạng sẽ tiến tới Thái Lan, sẽ giải phóng nước Mỹ, lúc đó anh chạy đi đâu?
Hai chục năm sau, cậu thanh niên đó đã vượt biên lại có dịp trở về nước. Ông chú cấp ủy cũ nay đã quên hết cái bánh xe lịch sử cũ vì rõ ràng nó đang quay ngược chiều, ông chỉ tìm cách tranh thủ vơ vét để tự mình tư bản hóa!
Những người thực sự theo chủ nghĩa Mác xít, vì đọc và nghiên cứu các sách vở của Karl Marx, là những nhà nhà trí thức mơ mộng và những thanh niên trẻ người non dạ. Những người như Tạ Thu Thâu, Trương Tửu, Trần Ðức Thảo ở nước ta thành thật tin vào hệ thống tư tưởng do Karl Marx dựng lên, mà họ biết qua sách vở. Sự thật là chỉ vì họ yêu giấc mơ lớn của Marx, giải phóng giai cấp vô sản và cả loài người, cho nên tin tưởng dễ dàng vào các lý luận của ông ta. Tạ Thu Thâu đã bị bọn cộng sản đệ tam đồ đệ của Stalin hạ sát ngay năm 1946. Còn Trương Tửu và Trần Ðức Thảo mỗi người ngậm một nỗi đau khổ suốt đời, chứng kiến “bọn tiếm vị” nhân danh chủ nghĩa Marx nhưng trong hành động thì phản bội ông thầy.
Các lãnh tụ cộng sản thắng thế chỉ nhờ vào các thủ đoạn gian hùng do Stalin huấn luyện. Chính bọn họ không hề nghiên cứu Karl Marx bao giờ. Ông **** đã nói rằng ông không có một tư tưởng nào ngoài tư tưởng Mác Lênin. Nhưng ông cũng chỉ tiếp nhận được những cặn bã của chủ nghĩa Mác Lênin, qua những sách tóm tắt giáo khoa dậy cán bộ ký tên Stalin, mà ông Hồ đã cặm cụi dịch sang tiếng Việt khi trốn trong hang Pắc Bó. Phần lớn những người khác theo cộng sản chỉ vì mê say những khẩu hiệu tuyên truyền của Lênin và Stalin và choáng váng trước sự thành công của họ trong việc cướp chính quyền và củng cố chế độ độc tài đảng trị.
Nếu nghiên cứu và đọc kỹ Karl Marx, thì người hơi tinh ý một chút cũng phải nhận ra ngay là chính “Cuộc cách mạng Tháng Mười” đã chứng tỏ những điều Marx tiên đoán đều sai hết. Và cuộc toàn thắng của Mao Trạch Ðông ở nước Trung Hoa kinh tế lạc hậu lại càng cho thấy tư tưởng của Marx vừa lầm lẫn vừa vô vị trong việc giải thích lịch sử.
Karl Marx đoán rằng sau khi giới tư bản “làm xong nhiệm vụ lịch sử” công nghiêp hóa đời sống kinh tế rồi, những mâu thuẫn nội tại sẽ làm cho nó sụp đổ. Giai cấp vô sản trưởng thành sẽ đứng lên làm cách mạng để tiến tới Chủ nghĩa Xã Hội. Trong thực tế, các chế độ mang danh “Mác xít” đã được thành lập ở những nước hoàn toàn ngoài dự đoán của Marx. Nước Nga năm 1917 và Trung Quốc năm 1949 vẫn là những xã hội nông nghiệp chưa được kỹ nghệ hóa đến mức, giai cấp tư bản chưa thực sự thành hình và tại cả hai nước không hề có những giai cấp vô sản giác ngộ như Marx mô tả.
Tại Việt Nam đã có người nhìn thấy thực trạng xã hội như vậy. Từ năm 1940 Phan Bội Châu đã từng nhấn mạnh rằng ở nước ta lúc đó không hề có giới tư bản, cũng không có giai cấp vô sản. Vì thế cụ Phan khuyên người mình không nên theo chủ nghĩa cộng sản. Cụ Phan chỉ tìm hiểu chủ nghĩa “Mã Khắc Tư” qua các sách chữ Hán, nhưng cụ có đủ óc tỉnh táo và lòng mẫn cảm để nhìn thấy cái chủ nghĩa cộng sản đó không phù hợp với nhu cầu cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Chỉ những người mù lòa vì mơ mộng, vì không tưởng, mới chạy theo chủ nghĩa đó. Những người cộng sản đầu tiên ở nước ta đã được khích lệ thêm khi họ nhìn thấy cuộc đảo chính Bôn Sơ Vích ở Nga thành công. Họ không biết rằng chính việc xây dựng chế độ cộng sản ở nước Nga đã là một biến cố phủ nhận tư tưởng Karl Marx rồi. Nhưng bài học quan trọng nhất đối với họ ở Mát Cơ Va là được Stalin nuôi, dạy, huấn luyện các kỹ thuật tuyên truyền, kỹ thuật cướp chính quyền và củng cố quyền lực bằng một hệ thống kiểm soát các đảng viên bằng chủ nghĩa lý lịch, kiểm soát mọi người dân một cách chặt chẽ qua chế độ tem phiếu, hộ khẩu. Năm 1945 ở nước ta những người cộng sản “quốc tế” đã thắng thế các người theo chủ nghĩa dân tộc “quốc gia,” chỉ vì họ nắm vững các thủ đoạn đó. Và năm 1975 cũng giống như vậy.
Phần lớn những cán bộ cộng sản Việt Nam về, kể cả những người đã leo lên hàng lãnh đạo, đều học chủ nghĩa cộng sản theo lối đọc truyền đơn, chủ yếu là học những khẩu hiệu của Stalin do **** đem về. Họ học Mác Xít theo lối các nhà Nho thời xưa học thuộc các khẩu hiệu “tu, tề, trị, bình,” hoặc “tam cương, ngũ thường,” vân vân. Rồi cứ như thế, cứ học thuộc lòng là đủ, ai thuộc nhiều khẩu hiệu là giỏi.
Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông kể một cuộc tranh luận giữa giới lãnh đạo cao nhất trong đảng, Ðỗ Mười bị mọi người vặn cho đuối lý, không biết nói gì hơn, chỉ khẳng định: “Có như thế mới là Bôn Sơ Vích!” Mọi người không ai hiểu ông ta nói gì cả, nhưng nghe khẩu hiệu đó rồi thì đều im lặng cả!
Các lãnh tụ và đảng viên đều nhắm mắt hô khẩu hiệu. Họ tập thói quen nhắc lại các khẩu hiệu để phát biểu; lâu ngày quen, dùng việc hô khẩu hiệu thay thế cho hành động suy nghĩ; từ đó nhắm mắt tin vào đảng, vào lãnh tụ là những người gần như chiếm độc quyền đặt khẩu hiệu mới. **** chỉ cần nói, “Ðồng chí Stalin nói như thế! không bao giờ nhầm cả,” là tất cả hết thắc mắc! Giống hệt các hủ nho đời xưa hô “Ðức Khổng Tử đã nói” để bịt miệng thiên hạ. Với khí cụ đó, thằng ngồi trên bắt nạt kẻ nằm dưới, chỉ dùng các khẩu hiệu. Lên lớp nhau, chỉ cần múa mép khoe mấy thuật ngữ, mấy danh từ là đủ chứng tỏ mình thông thái, đáng làm thầy và sai khiến thiên hạ. Lối ăn nói ba hoa đó ngay cả khi thay đổi tư bản hóa cũng vẫn còn!
Ông Ðoàn Duy Thành từng làm bí thư Hải Phòng, đã leo lên đến chức phó thủ tướng và được Lê Duẩn để ý chuẩn bị sẽ lên làm tổng bí thư, chẳng may bị Ðỗ Mười phá đám đành chịu thua. Khi đã vỡ mộng làm lớn rồi, ông Thành vẫn còn trung thành với đảng mặc dù chính ông đã nhận ra sự trống rỗng của cả chủ nghĩa lẫn chế độ cộng sản.
Cũng như hầu hết các đảng viên cộng sản khác, ông Thành không biết “chủ nghĩa xã hội” nó là thế nào bởi vì chỉ biết qua các khẩu hiệu mà thôi. Ông thú nhận sự hiểu biết của mình về Mác xít, tóm tắt trong một câu: “Chỉ biết là phải làm cho mọi người sung sướng!” Muốn cụ thể hơn, ông giải thích: “...hoặc như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra, mới tiến lên cộng sản được.” Tin tưởng vào một chủ nghĩa như vậy thì chẳng khác gì một tín đồ của một tôn giáo tin vào cõi thiên đường, cực lạc. Không thể gọi là một lý thuyết, một chủ nghĩa được, nhất là lại tự xưng là một chủ nghĩa khoa học!
Bởi vì chỉ cần nhắm mắt tin mà không được thắc mắc, không đảng viên nào dám hỏi: “Làm cách nào để hàng hóa phải nhiều như nước chảy?” Marx không nói vì Marx không nghĩ đến vấn đề đó. Mà cả tập đoàn lãnh đạo cộng sản trong gần một trăm năm cũng không biết làm cách nào! Khi kinh tế các nước cộng sản sụp đổ vì trì trệ quá lâu, các lãnh tụ chỉ còn các tìm đường xoay trở lấy, được đâu hay đó.
Vì không thể dùng các khẩu hiệu của Stalin mà làm ra cơm gạo được nữa! Ông Ðoàn Duy Thành lấy làm hãnh diện khoe ông là một người đầu tiên áp dụng phương pháp “khoán sản trong nông nghiệp” ở nước ta, khi Ðặng Tiểu Bình cũng thay đổi bên Trung Quốc. Nhưng dù muốn áp dụng phương pháp đó ở địa phương mình, ông Thành cũng không dám làm, vì biết Trường Chinh là người “chống khoán sản” mạnh nhất, sau cuộc thí nghiệm ở Vĩnh Phú khiến một bí thư tỉnh bị trù dập.
Trong những năm đầu thập niên 1980 miền Bắc bị nạn đói, nhiều nông dân ở Thanh Hóa đã chết đói. Nhưng lập trường của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản vẫn kiên cố giữ vững khẩu hiệu “tập thể hóa,” ai nói khác là mất hết địa vị, quyền lợi bao năm mới giành được. Ðảng không chấp nhận cho nông dân được tự do canh tác và hưởng các thành quả do sức lao động của mình tạo ra. Ðoàn Duy Thành rất đau đớn khi viết: “Ðói thì đói, nhưng chỉ sợ mất lập trường, mất chủ nghĩa xã hội...” Ông thú nhận tiếp: “mà chủ nghĩa xã hội thì có ai mà hình dung ra được cụ thể như thế nào?”
Ðó là nỗi đau lòng của một cán bộ cộng sản sống trong thiên đường mù, hết lòng tin vào chủ nghĩa dù không biết nó đưa mình đi đâu! Dù muốn giữ lòng tin của một tín đồ, nhưng Ðoàn Duy Thành vẫn phải nhìn ra sự thật, cảnh đau lòng mà đảng Cộng Sản đã gây ra cho nước ta: “Một nước nông nghiệp lại thiếu lương thực, đành chịu chết đói, chỉ vì sợ mất chủ nghĩa xã hội, (sợ) phá vỡ hợp tác xã!”
Tấn thảm kịch của một nửa nhân loại, trong đó có đồng bào Việt Nam chúng ta, là do những kẻ đi xây thiên đường mù gây ra. Năm 1989 những thành trì của chủ nghĩa cộng sản ở Âu Châu đã sụp đổ khi mọi người sống trong đó đều tỉnh mộng, tự mở mắt ra và tự giải thoát lấy mình. Chưa bao giờ một hệ thống tư tưởng và tổ chức chính trị bị vỡ tan tành mà không một ai thương tiếc, không một ai thắp cho một nén hương như vậy.
Chỉ tội nghiệp cho Karl Marx! Ví thử như chủ nghĩa của ông không bao giờ được đem ra sử dụng làm lợi khí tuyên truyền và củng cố chế độ cộng sản thì tới giờ này chắc ông vẫn được lịch sử coi là một nhà tư tưởng lớn không may mắn. Năm 1989 lịch sử nhân loại thay đổi, những điều ông suy nghĩ, ấp ủ suốt một đời cuối cùng hiện nguyên hình chỉ là những giấc mơ hão huyền vẽ ra bằng ngụy biện. Ông mơ mộng chỉ vì mang thiện chí của một người trí thức ước mong trở thành một “thánh tiên tri” mới. Tiếc là đến giờ này ông vẫn chưa được nhắm mắt, vì còn những nhóm lãnh tụ độc tài ở Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam, vẫn lợi dụng tên của ông để củng cố quyền hành và lợi lộc của họ chủ nghĩa đó chỉ còn là những khẩu hiệu trống rỗng để tiếp tục thống trị và bóc lột những người khác.
|
|
|
|
|
|
| |
    |
 |
dodom

Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

|
|
Cuộc Chiến Mới Của TT Obama
Vũ Linh
...TT Obama đổi mục tiêu, quay qua đánh Fox News.
Sau khi nhậm chức, TT Obama đã thay đổi hoàn toàn chính sách của vị tiền nhiệm. Tân tổng thống không là một cao bồi hung hăng mà là tiếng nói của ôn hòa và khiêm tốn. Ông hứa hẹn tìm cách nói chuyện với các lãnh tụ độc tài đối địch với Mỹ từ bao nhiêu năm qua, từ Iran đến Venezuela, từ Bắc Hàn đến Cuba. Đối với nạn khủng bố Hồi Giáo quá khích, tân tổng thống đi qua Trung Đông hai lần trong vài tháng đầu để công khai ca tụng văn minh Ả Rập, đạo Hồi, và xin lỗi về tất cả những tội lớn nhỏ nước Mỹ đã phạm trong suốt quá trình lịch sử Mỹ. Ông cũng thay đổi chiến lược chống khủng bố trong nước, chuẩn bị rút quân tại Iraq và đang tìm đường chấm dứt chiến tranh tại Afghanistan.
Kết quả rực rỡ là ông được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa Bình. Đi vào lịch sử giải Nobel như người đầu tiên lãnh giải mà không cần thành tích cụ thể gì hết. Chỉ cần hứa hẹn và đọc diễn văn cho giỏi. Theo tiêu chuẩn mới của ban giám khảo thì thông điệp quan trọng hơn thành quả. Chẳng khác gì dân Mỹ đã tặng Tòa Bạch Ốc cho ông vì thông điệp “hy vọng” và tài đọc diễn văn chứ chẳng phải vì thành tích hay quá trình gì.
Những người ủng hộ tổng thống cũng như những người “yêu chuộng hòa bình” thấy hả hê và say sưa vì thần tượng của họ được cả thế giới nhìn nhận như biểu tượng của cởi mở và nhân ái. Những người chống đối TT Obama thì cho là ông đã được xác nhận là nhân vật yếu đuối và nhút nhát, gặp đối thủ thì chưa đánh đã chạy. Thật ra cả hai lập luận trên đều sai. Ông chẳng nhân ái hơn ai mà cũng chẳng yếu đuối hơn ai.
TT Obama là một chính khách trẻ xuất thân từ “trường phái” Chicago của tiểu bang Illinois nổi tiếng với hai vị thống đốc đang ngồi tù và một bị truất nhiệm vì tham nhũng và ăn bẩn. Đã vậy, ông lại đánh bại được bà Hillary Clinton và guồng máy của đảng Dân Chủ lúc đó trong tay bà này, rồi sau đó lại hạ luôn cả ông John McCain và guồng máy của đảng Cộng Hòa. Người như vậy thì không thể nào là người “nhân ái” “yếu đuối”, hay tay mơ được.
Chẳng qua, ông nhân nhượng với những đối thủ trên chính trường thế giới có lẽ vì ông nghĩ ông chưa đủ kinh nghiệm hay chưa đến lúc đối phó với những kẻ địch này. Cho nên ông chịu lép, ít ra là tạm thời, để lo đối diện với những vấn đề quốc nội mà ông cho là cấp bách hơn.
Bây giờ ưu tiên của ông là các chương trình cải tổ vĩ đại về tài chánh, y tế, môi sinh, năng lượng. Và muốn thành công với những chương trình này thì phải tập trung nỗ lực. Và quan trọng nhất, phải loại sớm các kẻ địch trong nội bộ đang ra sức chống phá những kế hoạch của ông.
Có hai đối thủ lớn cản đường đi của ông.
Trước hết là đảng Cộng Hòa. Sau khi đại bại trong hai cuộc bầu cử năm 2006 và 2008, đảng này thiếu lãnh đạo sáng giá và mất uy tín do chính sách mất lòng dân của TT Bush, và nhất là tệ nạn thối nát, bê bối của các dân cử, kể cả mấy vị thâm niên đạo cao đức trọng rốt cuộc cũng dính vào lem nhem tiền bạc, tình dục, đủ loại.
Trong quốc hội, đảng Cộng Hòa trở thành thiểu số tuyệt đối, chẳng cản trở được những gì phe Dân Chủ muốn làm. Đã thế, đảng này còn đang do dự giữa hai ngả, một là bảo vệ bản sắc và tư tưởng bảo thủ - kỷ cương xã hội, kỷ luật ngân sách là giảm thuế và giảm chi cho dân dễ thở, và cứng rắn về an ninh - hai là dung hòa quan điểm để thỏa hiệp với thành phần ôn hoà ở giữa hầu còn hy vọng thắng cử. Như nhiều "người Việt quốc gia", khi phân vân như vậy là... phe ta đả nhau tận tình! Cuộc tranh cử ghế dân biểu hạt 23 tại New York vào tuần này là thí dụ: ứng viên ôn hoà phải rút lui ba ngày trước ngày bầu cử vì sức ép quá mạnh của quần chúng bảo thủ trong đảng.
Vì vậy, đảng Cộng Hoà chưa là một mối lo lớn cho ông Obama
Đối thủ thứ hai là truyền thông bảo thủ, với hai đại biểu trên hệ thống truyền thanh và truyền hình: Rush Limbaugh là bình luận gia trên đài phát thanh, và đài truyền hình Fox News. Đây là những phần tử đối lập ồn ào nhất, triệt để chỉ trích tổng thống về mọi vấn đề. Đúng ra, đây không phải lần đầu tiên giới truyền thông mạnh mẽ tấn công một tổng thống.
Trong lịch sử cận đại Mỹ, kể từ ngày TT Roosevelt bị đả kích về các chương trình cứu nguy kinh tế vĩ đại của ông đầu thập niên 30, và TT Truman bị sỉ vả vì cách chức người hùng chiến tranh Triều Tiên, là Tướng Mac Arthur, thì hầu như không tổng thống nào thoát được ngòi bút và miệng lưỡi của các nhà báo. TT Nixon bị báo chí khui vụ Watergate đến độ phải từ chức. TT Clinton bị khui vụ lem nhem tình dục xém chút thì bay chức. Gần đây hơn, TT Bush là nạn nhân của những chửi bới liên tục và không giới hạn, có tính cách nhục mạ kiểu như “thằng đần trong làng” (the village idiot).
Do đó, việc TT Obama bị truyền thông bảo thủ chỉ trích, đánh phá không có gì lạ. Điều lạ lùng đáng nói là phản ứng của TT Obama.
Từ TT Roosevelt cho đến TT Bush, bị truyền thông đả kích đã trở thành loại “rủi ro nghề nghiệp” đi cùng chức vụ. Chỉ có thể làm giảm cường độ bằng cách thỉnh thoảng ve vãn mấy nhà báo, vuốt ve “cái tôi” của họ, hoặc là phe đảng, xì tin bí mật cho các ký giả “đồng minh” trước. Không ai tìm cách bịt miệng các nhà báo, vì tất cả các tổng thống, dù không vui, vẫn phải chấp nhận tiếng nói đối lập của truyền thông như là thực thể cần tôn trọng trong chế độ dân chủ. Và cũng không tổng thống nào xăn tay áo lên đấm đá tay đôi với truyền thông, vì họ đều hiểu rõ vai vế và uy tín của một quốc trưởng không thể bị lôi xuống ngang hàng với mấy anh ký giả cà kê nói láo ăn tiền. Quần chúng có quyền phán xét là nhà báo hay chính quyền ai là kẻ nói láo, chứ chính quyền không được làm chuyện phản pháo.
Cho đến thời TT Obama.
Ai cũng biết TT Obama đã được giới truyền thông cấp tiến công kênh vào Tòa Bạch Ốc. Các báo lớn, đài truyền hình lớn, và các ký giả tranh nhau xem ai tung hô giỏi hơn ai. Giải quán quân là Chris Matthews của đài truyền hình MSNBC. Anh này tuyên bố mỗi lần nghe đến tên “Obama” là anh cảm thấy “rùng mình”, như có một luồng “nội lực chạy rần rần từ chân lên đầu”, và khoe anh là người cực kỳ may mắn, đã sống đúng trong thời Đấng Tiên Tri Obama giáng thế.
Trong cái ban hợp ca đó thì tự nhiên lại có một vài giọng hát… lạc điệu và trật nhịp: đó là tiếng nói của Rush Limbaugh và các bình luận gia của đài truyền hình Fox News. Thật ra thì chỉ là những tiếng la ó nhỏ so với việc tất cả truyền thông cấp tiến “dòng chính” đồng loạt đánh Bush trước đây. Dù vậy, TT Obama, cũng như những vua chúa Tầu ngày xưa, nghe nịnh thần hót quen rồi, tự nhiên lại có một vài tiếng nghịch nhĩ chói tai nổi lên thì làm sao không bực mình? Và ông quyết định ra tay.
Chỉ một tháng sau khi nhậm chức, ông đích danh chỉ trích Rush Limbaugh.
Các quan trong triều nhao nhao hưởng ứng theo. Họ xúm lại đả kích Rush, rồi tìm cách bôi lọ cả Rush lẫn đảng Cộng Hòa, gọi anh này là… chủ tịch đảng Cộng Hòa. Nhưng rồi chiến dịch thất bại. Chỉ làm giàu cho anh Rush, tự nhiên hàng chục triệu người xúm lại nghe các bài bình luận đả kích Obama của anh trên hàng trăm đài phát thanh trên khắp nước Mỹ. Tiền vào ào ào, khiến anh này không biết làm gì cho hết, tính hùn hạp mấy trăm triệu mua luôn đội banh football Mỹ Saint Louis Ram!
Đánh Rush Limbaugh không xong, TT Obama đổi mục tiêu, quay qua đánh Fox News.
Trung tuần tháng Chín, sau khi nghỉ hè về, TT Obama mở chiến dịch quảng bá cho cuộc cải tổ y tế. Trong một ngày ông cho một loạt tất cả các đài truyền hình lớn phỏng vấn ông về kế hoạch cải tổ y tế, ngoại trừ Fox News bị cho đứng ngoài nhìn trời.
Giám Đốc Thông Tin Tòa Bạch Ốc, bà Anita Dunn (người được một tờ báo đổi tên là Anita Đông cho có bà con với Mao Trạch Đông là người được bà tôn là thần tượng) chỉ trích Fox không phải là một cơ quan thông tin (news organization), mà là một cơ quan bình luận (opinion organization). Đại khái theo bà, là một cơ quan lá cải nói nhảm, vì bình luận là nói theo quan điểm, muốn nói gì thì nói, không dựa trên sự thật. Không hiểu khi anh Matthews của MSNBC nói đến chuyện “rùng mình” của anh thì đó là thông tin hay quan điểm, mà không thấy bà Dunn phê bình gì? Bà Dunn cũng tố Fox chỉ là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Hòa. Như vậy không hiểu MSNBC suốt ngày ca tụng TT Obama thì có phải là cơ quan ngôn luận của tổng thống không?
Sau đó đến quân sư David Axelrod và tể tướng Rahm Emanuel, cùng một ngày lên hai đài truyền hình để đả kích Fox. Đúng sách vở chia để trị, họ ca ngợi các đài như CNN, và ước mong các “đài lớn đầy uy tín” này sẽ không bị Fox dụ dỗ theo con đường tà đạo, chống báng Nhà Nước.
Rồi đến Robert Gibbs, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc. Ông tổ chức họp báo cho một “Sa Hoàng”. Nhưng Fox bị gạt ra ngoài. Các cơ quan truyền thông, mặc dù tung hô TT Obama, vẫn thấy Tòa Bạch Ốc đã đi quá xa. Họ phản đối và không chịu tham gia cuộc họp báo nếu không có hiện diện của Fox. Khiến Tòa Bạch Ốc phải de lui, chấp nhận cho Fox tham gia họp báo.
Điều mỉa mai là theo thăm dò, năm nhân vật truyền hình thu hút được nhiều người coi nhất hiện nay là Glenn Beck, Bill O’Reilly, Sean Hannity, Shepard Smith và Greta Van Susteren. Cả năm đều là bình luận gia của đài… Fox! Số người coi CNN và MSNBC cộng chung lại chưa bằng Fox.
Ly kỳ hơn nữa, càng bị Chính quyền Obama tấn công, đài Fox càng ăn khách khiến ông chủ đầu tư là Rupert Murdoch - người gốc Úc - hoan hỉ nói rằng doanh lợi của Fox có tăng. Ông liền bị tấn công là "tham lam" và "bảo thủ", như một cái tội. Thật ra, chủ đầu tư thường không can thiệp vào nội dung tờ báo hay truyền hình vì đó là công việc của một thành phần chuyên nghiệp về truyền thông.
Và ngoài một hệ thống riêng về tin tức kinh doanh (Fox Business News) rất có giá trị, chương trình 24 tiếng của FoxNews gồm có gần hai chục tiếng tin tức từ mờ sáng đến chiều - và qua đêm. Còn lại, khoảng bốn tiếng là bình luận vào giờ cao điểm với các bình luận gia bảo thủ, nhưng họ cũng mời các nhân vật Dân Chủ hay độc lập lên võ đài trình bày quan điểm. Họ không lẫn lộn hai phần tin tức và bình luận và viết bình luận mà ngụy trang thành tin tức, cho nên mới có nhiều khán giả theo dõi hơn các đài kia.
Dù sao, việc nguyên cả một chính quyền, từ tổng thống đến các viên chức cao cấp nhất, xúm lại đánh hội đồng một đài truyền hình là chuyện xưa nay chưa từng thấy. Một phần vì TT Obama dị ứng đối với các chỉ trích. Phần nữa là vì đài Fox này chửi rất mạnh, nhưng lại không nói nhảm như Toà Bạch Ốc tố cáo.
Trong thời gian qua, đài này đã mạnh mẽ chĩa mũi dùi vào hai vấn đề.
Thứ nhất là các “Sa Hoàng”, cố vấn hay phụ tá đặc biệt. Kết quả là Sa Hoàng Van Jones, chuyên lo về môi sinh, bị buộc phải từ chức vì lý luận thực sự thiên lệch - bảo rằng Chính quyền Bush dựng ra vụ khủng bố năm 2001 và đòi điều tra - thân cộng và nhất là có hành vi mờ ám với chứng cớ rành rành. Phải từ chức là để khỏi bị điều tra thêm và gây lúng túng cho Toà Bạch Ốc.
Thứ hai là ACORN, là tổ chức da đen chuyên đi vận động quần chúng tham gia sinh hoạt chính trị. Chuyện ACORN này mới ky kỳ nên phải nói ra cho rõ.
Một cặp sinh viên trẻ kiêm ký giả tay mơ đã giả danh là... ma cạo và gái mãi dâm. Họ đến trụ sở của ACORN ở vài thành phố lớn như Miami, New York, San Francisco, Washington DC, xin giúp đỡ để... nhập cảng gái vị thành niên vào Mỹ lập ổ chứa. Vừa nhập cảng di dân lậu vừa khai phóng tình dục! Thay vì kêu cảnh sát điều tra một dự tính phi pháp như vậy, thì viên chức ACORN lại tận tình giúp đỡ, góp ý kiến cho cặp này cách mang gái lậu vào, cách mở ổ chứa, cách khai gian thuế… Tất cả đều được hai người này thu video đầy đủ và gửi cho truyền thông!
Các đài truyền hình và báo “dòng chính” tránh không phổ biến những video này, trừ Fox (cách đây ít tuần, kẻ viết bài này đã có dịp tố giác việc truyền thông cấp tiến giấu nhẹm những tin bất lợi cho TT Obama và phe cấp tiến, đây là một bằng chứng nữa).
Kết quả dân Mỹ xúc động mạnh, yêu cầu điều tra. ACORN phải sa thải các nhân viên này, nhưng cũng quá muộn. Một số tiểu bang, đáp ứng sự xúc động của dân địa phương, vội vã cắt tiền yểm trợ cho ACORN. Hạ Viện Liên Bang cũng đành phải biểu quyết cắt mọi trợ cấp của Nhà Nước dù ACORN là bộ máy hốt phiếu cho đảng Dân Chủ.
Hai câu chuyện trên chứng minh Fox không bình luận nhảm mà đã nêu dữ kiện chính xác. Nếu không thì Van Jones đã không phải từ chức và ACORN không mất trợ cấp. Chỉ khiến chính quyền Obama thêm sợ hãi, và ráo riết tấn công Fox hơn nữa.
Chiến dịch tấn công của TT Obama khiến ngay cả một số ký giả cấp tiến thượng hạng phải lên tiếng phàn nàn. Bà Ruth Marcus viết trên Washington Post, chỉ trích “cuộc chiến ngu xuẩn của Obama chống Fox” (Obama’s dumb war with Fox News). Theo bà, cuộc chiến này làm cho Tòa Bạch Ốc trở thành yếu (weak), nhỏ nhen (small), ấu trĩ (childish), và chỉ giúp Fox có thêm khán giả và kiếm thêm tiền.
Nhìn vào chín tháng cầm quyền của TT Obama, người ta thấy rõ một cảnh tượng ngược ngạo. Trong khi TT Obama hết sức hòa hoãn với các địch thủ phía ngoài, từ các nhà độc tài chửi Mỹ không mỏi miệng cho đến khối quá khích Hồi Giáo, thì ông lại mạnh bạo thẳng tay đối phó với các nhà báo Mỹ, lại tích cực truy lùng các nhân viên an ninh CIA đã có công mang tính mạng ra để bảo vệ nước Mỹ chống khủng bố.
Ngày xưa, Tưởng Giới Thạch đã nhận định “giặc Nhật là vết thương ngoài da, giặc Mao Cộng mới là ung thư trong ruột”. Chẳng lẽ TT Obama cũng có ý tương tự? Giặc Al Qaeda, Iran, Bắc Hàn, là vết thương ngoài da, còn Fox News hay CIA mới là ung thư trong ruột cần mạnh tay trừ khử trước? Mong sao kẻ viết này đã nghĩ sai (31-10-09).
|
|
|
|
Last edited by dodom on Wed Nov 11, 2009 6:12 am; edited 1 time in total
|
|
| |
    |
 |
ThienThu

Joined: 30 Oct 2008
Posts: 182

|
|
HÒA BÌNH VÀ CHIẾN TRANH
Huệ Vũ
Ngày thứ Sáu, 9/10, Ủy Ban Nobel Hoà Bình ở Na Uy thông báo Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã được chọn để trao giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 2009 vì đã có những nỗ lực ngoại hạng nhằm củng cố mối liên hệ ngoại giao quốc tế, hợp tác giữa các dân tộc, cắt giảm các kho vũ khí nguyên tử, đem lại hy vọng và tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới.
Tổng thống Obama được trao giải Hoà Bình trong lúc mới làm tổng thống Hoa Kỳ mới được 9 tháng. Mặc dù đã đưa ra nhiều mục tiêu, ông ta vẫn chưa tạo được sự tiến triển nào đối với hoà bình Trung Đông, đang gặp phải những sự chọn lựa khó khăn đối với chiến trường Afghanistan, tình hình Iraq cũng trở nên bất ổn hơn, việc giải quyết vấn đề nguyên tử Bắc Hàn, Iran cũng chưa có ánh sáng nào ở cuối đường hầm.
Ngay sau khi Ủy Ban Nobel Na Uy tuyên bố trao tặng giải thưởng cho Tổng thống Barack Obama, Thủ tướng Đức Angela Merkel đang tham dự một buổi lễ kỷ niệm ngày sụp đổ của chế độ Cộng sản Đông Đức ở thành phố Leizpig đã phát biểu: “Đức và các nước cần ủng hộ Tổng thống Obama để tạo hoà bình cho thế giới, hiện còn nhiều việc cần phải làm nhưng các cánh cửa để đi tới hoà bình đang rộng mở... Quyết định của Ủy Ban Nobel là một sự khích lệ đối với Tổng thống Obama và tất cả mọi người cần phải ủng hộ ông ta.” Đúng như lời tuyên bố của Thủ tướng Merkel, giải Nobel hoà bình năm nay chỉ là một sự “khích lệ”, mà không phải căn cứ trên quá trình thành công và đã đóng góp thực sự cho hoà bình của người được chọn lựa đêå trao giải thưởng có giá trị vật chất chỉ 1.42 triệu mỹ kim, nhưng có giá trị tinh thần và vinh dự lớn nhất của thế giới hiện nay.
Giải thưởng Nobel đã ra đời qua di chúc của nhà kỷ nghệ và hoá học Alfred Nobel năm 1895 và vào năm 1901, Ủy Ban Nobel đã trao tặng 5 giải thưởng đầu tiên gồm vật lý, hoá học, văn chương, y tế và hoà bình. Khác các với các giải Nobel khác được Ủy Ban Nobel ở Stockholm - Thụy Điển chọn lựa; giải Nobel Hoà Bình lại do một ủy ban 5 người được quốc hội Na Uy chỉ định chọn lựa. Buổi lễ trao giải được tổ chức vào ngày 10 tháng 12 mỗi năm tại Toà Đô Chính Oslo, Chủ tịch Ủy Ban Nobel Na Uy sẽ trao giải thưởng trước sự chứng kiến của quốc vương Na Uy. Ngày hôm sau là một đại nhạc hội Nobel Hoà Bình được trực tiếp truyền thanh, truyền hình trên 150 quốc gia trên thế giới. Tổng thống Obama đã nói rằng ông không xứng đáng nhận vinh dự lớn lao này, nhưng sẽ nhận giải và hiến số tiền cho các qũy từ thiện.
Việc Tổng thống Obama được trao giải Nobel đã gây nhiều tranh cãi nhiều trên thế giới. Giáo sư Ronald Krebs của trường đại học Minnesota nói rằng Ủy ban đã tặng giải cho người có ý định tìm kiếm hoà bình thì Tổng thống Obama là một người xứng đáng. Cựu Tổng thống Ba Lan Lech Walesa là một người nhận giải Nobel hoà bình năm 1983 đã tỏ ra bàng hoàng với việc trao tặng, cho rằng quá nhanh, quá sớm. Phe bảo thủ ở Hoa Kỳ thì nhiều người đã bày tỏ tức giận. Giải thưởng Nobel năm nay có tất cả 204 nhân vật và 33 tổ chức được chỉ định, trong đó có rất nhiều chỉ định viên đã đóng nhiều công lao để tranh đấu cho nhân quyền, bảo vệ môi trường và hoà bình thế giới, nhưng Tổng thống Obama là người duy nhất được chọn. Giám đốc viện nghiên cứu nhân quyền của Barnard College là Giáo sư J. Paul Martin phát biểu: “ Cái nhìn về sự thay đổi đối với chính sách của Tổng thống George W. Bush tại Hoa Kỳ hoàn toàn cách biệt hẳn với cái nhìn và hy vọng của thế giới đối với nước Mỹ. Lá phiếu của Ủy Ban Nobel Na Uy là lá phiếu bày tỏ sự tin tưởng và hy vọng.”
Dù phản đối hay ủng hộ, sự thực không chối cãi của giải Nobel Hoà Bình năm 2009 chỉ là một sự khích lệ đối với Tổng thống một siêu cường quốc. Hy vọng Nhiệt tâm hoà bình của vị tổng thống Hoa Kỳ có thể làm thay đổi cục diện thế giới. Tuy nhiên, giải Nobel Hoà bình được trao tặng trong lúc uy tín của Tổng thống Obama đang xuống mức thấp nhất. Mức chấp thuận của dân chúng đối với ông chỉ còn trên 50% so với mức cao nhất gần 79% trước đây. Những nỗ lực của ông không đem lại sự sáng sủa nào và còn có vẻ đen tối hơn nhiều.
Ưu tiên hàng đầu của chính sách ngoại giao Tổng thống Obama là nối lại cuộc đàm phán hoà bình giữa Do Thái và Palestine đã bị đình chỉ sau khi Do Thái xua quân tấn công dải Gaza trong cuối tháng 12/08 và đầu tháng 01/09. Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Obama đã chỉ định Cựu Nghị Sĩ George Mitchell làm đặc sứ hoà bình Trung Đông, vận động Do Thái và Palestine trở lại bàn đàm phán, và vị đặc sứ này đã làm con thoi qua lại giữa hai bên không biết bao nhiêu lần. Lập trường đầu tiên của chính phủ Obama là kêu gọi Do Thái và Palestine tôn trọng lộ trình hoà bình năm 2003 do Bộ Tứ gồm Hoa Kỳ, Nga, Liên Âu và Liên Hiệp Quốc đề nghị, được Thủ tướng Do Thái Ariel Sharon và Tổng thống Madmoud Abbas của Palestine chấp nhận qua Hội nghị thượng đỉnh với Tổng thống George W. Bush ở Aqaba, Jordan.
Theo Lộ trình Hoà bình 2003, Palestine phải từ bỏ bạo động, Do Thái phải ngưng xây cất mở rộng các khu định cư, đàm phán thành lập quốc gia Palestine, sống chung, song song và hoà bình với Do Thái.
Hy vọng của thế giới Á Rập đối với Tổng thống Obama đã lên rất cao sau chuyến viếng thăm thủ đô Cairo của Ai Cập, nhưng từ tháng 9 đến nay họ đã bày tỏ sự thất vọng đối với việc Tổng thống Obama thay đổi lập trường, từ đỏi hỏi Do Thái ngưng xây cất định cư sang chấp nhận xây cất giới hạn. Ngoại trưởng Clinton, người từng tuyên bố “stop” là “stop”, đã tạo nên sự bất mãn lớn hơn qua chuyến đi Trung Đông vận động hoà bình của bà, tuyên bố trong ngày 31/10 “ việc mở rộng các khu định cư một cách giới hạn của Thủ tướng Netanyahu là một điều chưa có tiền lệ trong lịch sử, việc Palestine đòi Do Thái ngưng hoàn toàn việc xây cất cũng không nên coi là điều kiện tiên quyết để trở lại bàn đàm phán.” Nội các Do Thái họp vào ngày sau đó đã hết lời khen ngợi Ngoại trưởng Clinton, tuyên bố “cộng đồng quốc tế” chấp nhận Do Thái tiếp tục mở rộng định cư!
Thất vọng với sự thay đổi của Hoa Kỳ, Tổng thống Mahmoud Abbas tuyên bố sẽ không ra ứng cử trong cuộc bầu cử ngày 24/1/2010. Tổng thống Abbas là người đã lên thay thế ông Yasser Arafat cách nay 5 năm, ông đã bị chỉ trích đã để cho Hamas chiến thắng cuộc bầu cử quốc hội năm 2006 và sau đó để Hamas chiếm quyền kiểm soát dải Gaza làm chia rẽ nội bộ Palestine, nhưng ông ta là người đang lãnh đạo Fatah và Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và hiện giờ trong 2 tổ chức này đều chưa có người có đủ uy tín để thay thế. Là một người xây dựng sự nghiệp chính trị qua việc thương thuyết với Do Thái, là người ký hiệp ước Oslo, ông Abbas tin tưởng sẽ có thể thành lập một quốc gia Palestine sống chung song song với Do Thái. Ông ta là người Hoa Kỳ đặt hy vọng có thể cùng Do Thái ký kết hiệp ước hoà bình. Sự ra đi của ông ta sẽ làm cho tiến trình hoà bình sau gần một năm không có dấu hiệu tiến triển nào sẽ bị bế tắc.
Sự thay đổi lập trường của Tổng thống Obama là một sự vụng tính thảm hại. Chính phủ Obama đã không thấy rằng, nếu ông Abbas chịu áp lực của Hoa Kỳ trở lại bàn đàm phán trong lúc Do Thái tiếp tục xây cất, bành trướng các khu định cư ở Tây Ngạn, phá dỡ nhà cửa của người Palestine ở Đông Jerusalem, thì điều này chỉ làm cho người dân Palestine cho rằng quan điểm không nên tin tưởng thiện chí hoà bình của Do Thái và Hoa Kỳ của Hamas là quan điểm đúng! Chỉ giúp cơ hội cho Hamas chinh phục thêm cảm tình của người Palestine.
Viễn ảnh đưa Do Thái và Palestine đang trở nên u ám hơn, thì xung đột giữa người Palestine và Do Thái ngày càng có nhiều nguy cơ bùng phát hơn. Trong thời gian gần đây, thường xuyên diễn ra những vụ xung đột giữa người Palestine và quân đội Do Thái. Vụ xung đột lớn nhất đã diễn ra tại ngôi đền thiêng Al-Aqsa trong cuối tháng 10, Do Thái đã đưa tới ngôi đền cả ngàn cảnh sát để dẹp các cuộc biểu tình ném đá của người Palestine. Đền Al- Aqsa hay ngôi đền vòm đá xây lên từ thế kỷ thứ 7, được coi là nơi thiêng liêng đứng hàng thứ 3 của thế giới Hồi Giáo, sau Mecca và Medina. Địa điểm ngôi đền lại được người Do Thái coi là nơi thiêng liêng của họ. Nơi đây được truyền tụng là nơi ông Abraham định giết người con trai để dâng Chúa, và là nơi vua Salomon đã xây lên ngôi đền để thờ phụng Chúa Trời 3000 năm trước. Ngôi đền này bị người Babylone phá bỏ và đã được vua Herod xây lại với tầm vóc đồ sộ và to lớn hơn nhiều vào năm 516 trước Tây Lịch. Sau đó ngôi đền này lại bị Đế Quốc La Mã phá hủy. Ngày nay Bức Tường Phiá Tây được cho là di tích của ngôi đền xưa, trở thành nơi thiêng liêng cầu nguyện của người Do Thái. Vào năm 2000, Thủ tướng Ariel Sharon cùng một số đảng viên đảng Likud đã tới viếng ngôi đền đã tạo nên cuộc thánh chiến “Al Aqsa infidata” kéo dài gần 7 năm.
Việc một số giáo sĩ Do Thái Giáo cùng một số người cực đoan khiêu khích vào ngôi đền tạo nên vụ xung đột ngày 25/10; sự thất vọng đối với sự thay đổi lập trường của Hoa Kỳ trên vấn đề định cư, việc Hoa Kỳ mạnh mẽ chống nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đòi hỏi Do Thái và Hamas phải điều tra những tội ác được bản phúc trình của Ủy ban Nhân quyền LHQ do Thẩm phán Goldstone cầm đầu càng tạo thêm sự thất vọng của khối Á Rập. Mục tiêu tạo hoà bình cho Trung Đông là mục tiêu hàng đầu của chính phủ Obama hình như đang vẽ gà hoá cuốc!
Mục tiêu thứ nhì là bình định Afghanistan của Tổng thống Obama cũng đang trở nên u ám hơn.
Gánh nặng Afghanistan là gánh nặng sai lầm của chính phủ George W. Bush trao lại. Cuộc chiến nhằm tiêu diệt Taliban và al-Qaeda, căn cứ của tổ chức khủng bố quốc tế, là cuộc chiến tràn đầy chính nghiã, không chỉ được dân chúng Hoa Kỳ mà đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Thế nhưng, thay vì dùng hết khả năng để bình định quốc gia này, truy đuổi và tìm diệt thành phần khủng bố chạy trốn ở biên giới Pakistan, chính phủ Bush đã mở thêm một cuộc chiến mới, sa lầy ở Iraq, tập trung hầu hết khả năng giải quyết trường Iraq, tạo cơ hội cho Taliban sống dậy.
Sau khi lên nhậm chức, Tổng thống Obama quyết định đưa thêm đến Afghanistan 17 ngàn quân, nhưng vào cuối tháng 8/09, Tướng Stanley McChrystal, chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ và NATO ở Afghanistan đã đệ trình cho bộ quốc phòng một bản phúc trình dày 66 trang, cho biết tình hình đang trở nên nghiêm trọng và yêu cầu tăng viện thêm 40 ngàn quân nữa. Nếu không có thể bị thất bại! Hiện giờ NATO đang có 39 ngàn quân, Hoa Kỳ có 65 ngàn quân tại chiến trường. Tháng 10/09 đã trở thành tháng có con số tử thương lớn nhất của quân đội Hoa Kỳ kể từ khi cuộc chiến khởi đầu vào năm 2001.
Các kết quả thăm dò gần đây lại cho thấy con số tỷ lệ ủng hộ chiến trường Afghanistan của dân chúng đang bắt đầu xuống thấp. Theo một thăm dò của CNN trong tháng 9/09, con số ủng hộ chiến tranh Afghanistan chỉ còn 42% so với 89% trong năm 2001.
Cuộc chiến cũng đang tạo mệt mỏi cho các nước đồng minh NATO, qua hội nghị bộ trưởng quốc phòng ở thủ đô Bratislava, Slovakia, từ ngày 22 đến 23 tháng 10, NATO tuyên bố ủng hộ đề nghị của tướng McChrystal, nhưng không có nước nào chịu hứa hẹn đóng góp thêm quân số.
Anh là quốc gia đóng góp nhiều đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ, với 9.000 ngàn quân, cũng đang gặp sự chống đối trong nước. Theo kết quả thăm dò của đài truyền hình Channel 4 trong ngày 6/11, chỉ có 32% dân chúng trong nước cho rằng đồng minh có thể thắng trận ở Afghanistan. Kết quả cuộc bầu cử bị gian lận cả triệu phiếu, nhưng Tổng thống Karzai được tuyên bố đắc cử sau khi ứng cử viên Abdullah Abdullah tuyên bố rút lui, đã làm dân chúng các nước càng ít tin tưởng vào chính phủ tham nhũng của Tổng thống Karzai hơn.
Chiến lược của Hoa Kỳ và đồng minh NATO hiện nay cũng gần giống với chính sách Việt Nam hóa chiến tranh trước đây với chủ trương mau chóng huấn luyện trang bị cho quân đội và cảnh sát Afghanistan đủ khả năng bảo vệ đất nước, chống lại Taliban để rảnh tay rút lui. Hiện giờ quân đội Afghanistan chỉ mới có 82 ngàn người và lực lượng cảnh sát được 134 ngàn người.
Tình hình chiến trường Afghanistan đang trở nên không mấy sáng sủa, thì nước láng giềng Pakistan có bom nguyên tử hiện cũng đang phải đối phó với Taliban. Chiến trận trong hai tỉnh Nam, Bắc Waziristan trong thời gian gần đây đã làm cho ít nhất 350 ngàn dân phải tản cư.
Tóm lại, mặt trận ở Afghanistan đang mở rộng hơn, có thể tạo nên chiến tranh khu vực, Hoa Kỳ có đủ kiên nhẫn tham gia một trận chiến tranh lâu dài hay không là điều khó biết được. Theo lý thuyết quân sự của Hoa Kỳ, để chống lại một cuộc chiến tranh nổi dậy tại một nước có dân số như Afghanistan phải cần 400 ngàn quân. Điều chắc chắn là với tình hình lòng dân lúc này, chính phủ Obama không thể nào đưa tới chiến trường một nửa số quân cần thiết theo lý thuyết.
Trong lúc ấy, vấn đề nguyên tử Iran cũng không mấy sáng sủa. Đầu tháng 10, thương thuyết trưởng nguyên tử Iran là ông Saeed Jalili đã gặp đại diện lục cường: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Trung Cộng, Pháp, Đức, đồng ý giải quyết vấn đề nguyên tử nước này bằng cách đưa uranium làm giàu thấp (LEU) qua Nga và Pháp. Qua các cuộc họp ở Vienna giữa đại diện Iran, Hoa Kỳ, Nga, Pháp từ ngày 21/10, Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA) đưa đề nghị Iran chuyển chuyển 1.2 tấn LEU trong số 1.5 tấn mà nước này đang có qua Nga và Pháp vào cuối năm nay. Số LEU sẽ được Nga làm giàu thêm với độ tinh luyện 20%, sau đó chuyển qua Pháp biến thành nhiên liệu nguyên tử, chuyển lại cho Iran để nước này dùng cho một lò phản ứng chế chất phóng xạ đồng vị trị bệnh ung thư. Các nước đều chấp nhận đề nghị này, nhưng câu trả lời của Iran là phải thương lượng lại. Ngay sau khi đề nghị của IAEA được đưa ra, cựu thương thuyết trưởng nguyên tử Ali Larijani, hiện là chủ tịch quốc hội Iran, tuyên bố Tây Phương đang chơi trò lừa phỉnh đối với nước này.
Tình báo Hoa Kỳ và Tây Phương cũng đã chứng tỏ không nắm vững chương trình nguyên tử Iran. Vào tháng 9, quốc tế đã phải ngạc nhiên khi biết Iran đã thành lập một nhà máy làm giàu uranium xây trong lòng núi, nằm gần thành phố Qom, một thành phố thánh địa Iran. Và chỉ biết tới nhà máy này sau khi Iran tự thông báo cho IAEA và Iran cũng đã để cho chuyên viên IAEA đến thanh tra nhà máy này trong các ngày gần cuối tháng 10. Hoa Kỳ và Tây Phương cho rằng Iran đang âm mưu chế tạo bom nguyên tử, Tehran luôn luôn chối, tuyên bố làm giàu uranium chỉ có mục đích thành lập các nhà máy điện. Tuy nhiên đề nghị đưa 75% số LEU của Iran qua Nga và Pháp để sau đó trao lại cho Iran dùng cho lò nghiên cứu y khoa, vẫn không bị Iran thẳng thắn bác bỏ đã trở thành một điểm rất khó hiểu. Trong lúc Iran chưa dứt khoát trả lời đề nghị IAEA, ngày 5/11 vừa qua, cơ quan IAEA lại đòi Iran phải giải thích những bằng chứng cho thấy các nhà khoa học Iran đã thí nghiệm một loại đầu đạn tân tiến và các nhà chuyên viên nguyên tử đã coi đây là một tin nín thở. Theo tài liệu của IAEA, Iran đang nghiên cứu chế đầu đạn “two point implosion”, là một phương pháp chế tạo bom nguyên tử vẫn còn cực kỳ giữ bí mật ở Hoa Kỳ và Anh.
Nếu vấn đề nguyên tử Iran không thể giải quyết qua phương thức ngoại giao, tin tức Iran đang tiến bộ vượt bực trong việc nghiên cứu vũ khí nguyên tử rất có thể đưa tới chiến tranh. Do Thái là quốc gia duy nhất có vũ khí nguyên tử trong vùng, sẽ coi Iran - một quốc gia không công nhận sự hiện hữu của Do Thái, có vũ khí nguyên tử là điều không thể chấp nhận. Ngày 5/11, Hải quân Do Thái chận bắt chiếc tàu Francop của công ty Đức Gerd Bartels được một công ty Cyprus thuê, treo quốc kỳ Antigua, tịch thu 320 tấn vũ khí, tuyên bố số vũ này là của Iran tiếp tế cho Hezbollah, nhiều nhà phân tích đã tỏ ra lo ngại chính phủ diều hâu Netanyahu sẽ lấy bằng chứng này để tấn công Iran. Sự tấn công Iran của Do Thái có thể đưa đến máu lửa trong vùng. Viễn ảnh hoà bình Trung Đông đang mờ nhạt, thì viễn ảnh chiến tranh lại lộ dần ra.
Trong đầu tháng 7, Tổng thống Obama đã đến Moscow, tìm được sự đồng ý của Tổng thống Medvedev cắt giảm kho vũ khí nguyên tử của hai nước, hiệp ước cắt giảm sẽ được ký kết vào tháng 12. Tổng thống Obama cho rằng hiệp ước này sẽ là thí dụ gương mẫu điển hình giúp chống lại sự truyền bá vũ khí nguyên tử. Hoa Kỳ đang cần Nga cộng tác để giải quyết vấn đề nguyên tử Iran và Bắc Hàn. Trong lúc Nga cũng cần sự hoà hoãn với Tây Phương để giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế trong nước. Hiệp ước cắt giảm vũ khí nguyên tử 2 nước cũng là tin mừng cho hoà bình thế giới.
Tuy nhiên, đe doạ cho hoà bình hiện tại và cho tương lai gần của Hoa Kỳ không phải là Nga hay Trung Cộng. Đe doạ của Hoa Kỳ hiện giờ là những cuộc chiến điạ phương, chống khủng bố mà Hoa Kỳ đang lãnh đạo, nói một cách khác là phải bao thầu các cuộc chiến tranh này. Nếu theo dõi tình hình, thấy rõ Nga và Trung Cộng sẽ làm cho Hoa Kỳ hài lòng sau một thời gian chống đối với các bản nghị quyết của Hội đồng Bảo an, hay các vấn đề khác rồi thoả hiệp, tỏ ra sẵn sàng tham gia giải quyết các cuộc xung đột, căng thẳng như vấn đề nguyên tử Bắc Hàn, Iran v.v. Nhưng họ không bao giờ tốn một “xu” để giúp giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới. Công việc chính của Nga là tìm thị trường bán dầu khí và vũ khí. Trung Cộng tiếp tục tìm thị trường mua nguyên liệu và bán hàng hoá rẻ. Đây là tình trạng không mấy lạc quan cho nền hoà bình thật sự của thế giới và nền an ninh trong tương lai xa của Hoa Kỳ.
Ngày 9/11 vừa qua, thành phố Bá Linh đã tưng bừng làm lễ kỷ niệm 20 năm Bức Tường Bá Linh dài 43 cây số sụp đổ. Sự sụp đổ của Bức Tường đã đưa tới thống nhất nước Đức, làm tan rã Liên Bang Xô Viết, cáo chung Chiến Tranh Lạnh. Trong lúc đó người dân Palestine lại đau xót nhìn Bức Tường Tây Ngạn dài 720 cây số là biểu tượng của sự chiếm đóng, cướp đoạt đất đai. Trong lúc đến thăm Trung Đông trong tháng 5 năm 2009, đức Giáo Hoàng Benedict đã từng tuyên bố bức tường là sự bế tắc của hòa bình Trung Đông. Tổng thống Obama có lẽ hiểu rõ không giải quyết tranh chấp Trung Đông khó có thể tìm hoà bình với thế giới Hồi Giáo. Nhưng hình như hiểu là một việc, làm được hay không là một việc. Không có gì nghi ngờ tổng thống Obama có thiện chí hoà bình, nhưng ông cũng sẽ khó vượt được sức mạnh của khối quyền lực thực sự lãnh đạo nước Mỹ.
Đe doạ cho nhân loại trong tương lai gần không phải là nguyên tử mà hình như là tinh thần tôn giáo cực đoan của con cháu đấng Allah và con cháu ông Abraham. Nhiều nhà “tiên tri” cho rằng chiến tranh tận diệt sẽ sớm xảy ra.. biết đâu sẽ đúng. Ông Obama nhận giải Nobel hoà bình chỉ là một sự khích lệ, tạo được hoà bình.. hình như lại rất xa vời!
Huệ Vũ
|
|
|
|
|
|
| |
    |
 |
VuPhong

Age: 52
Joined: 01 Dec 2004
Posts: 1212

|
|
MỌI NGƯỜI CẦN ĐỌC VÀ CHUYỂN TIẾP CHO NGƯỜI KHÁC.
Juval Aviv là một nhân viên Do Thái mà truyện phim “Munich” đã phỏng theo. Hồi trước ông là cận vệ của bà Golda Meir’s,bà đã cho lệnh ông truy nả và đem xét xử những kẻ khủng bố Palestin đã bắt các lực sỉ Do Thái làm con tin và giết họ trong Thế Vận Hội Munich.
Trong cuộc thuyết trình tại New York cách đây vài tuần, ông đã cho biết nhiều tin tức mà ông nghĩ mọi người Mỹ cần nên biết. Nhưng chính quyền ta (Obama) chưa chia sẻ với chúng ta.
Trước đây ông đã tiên đoán đường tầu điện ngầm ở Luân Đôn sẽ bị nổ bom,trong show cũa Bill O’reilly đài Fox ,công bố rằng khũng bố sẽ xảy ra trong vòng một tuần.Khi đó,O’reilly cười chế nhạo và châm biếm ông và rằng muốn ông có mặt trên show này một lần nữa vào tuấn tới.Nhưng thật không may,trong tuần lể đó khủng bố tấn công đã xảy ra.
Juval Aviv cung cấp tin tức tình báo ( từ những tin tức lượm được từ Do Thái và Trung Đông) cho chính quyền Bush biết về khủng bố 9/11 vào khoảng một tháng trước khi xảy ra.Bản báo cáo đặc biệt rằng chúng có thể dùng máy bay thay bom và nhắm vào các nhà chọc trời và các tượng đài.Sau đó Quốc hội đã mướn ông làm nhân viên cố vấn an ninh.
Bây giờ ông tiên đoán tương lai. Ông cho biết cuộc tấn công khủng bố tới sẽ xảy ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ trong vài tháng tới.
Hãy quên đi chuyện cướp những máy bay,bởi vì, ông nói,những tên khủng bố sẽ không bao giờ cướp máy bay nữa,vì chúng biết rằng người trên phi cơ sẽ không khoanh tay và sẽ chống cự.Aviv tin rằng an ninh phi tri°ờng hiện nay lỏng lẻo,chúng ta đã chỉ phản ứng thay vì đóng góp để kiện toàn hệ thống chông khủng bố hửu hiệu.
Ví dụ :
1-Kỷ thuật lỗi thời.Chúng ta tìm kim loại,nhưng hiện nay bom làm bằng nhựa.
2- ông nói về một tên ngu xuẩn đốt cháy dày của hắn,vì vậy mọi người phải cổi dày.Một số kẻ ngu khác cố đem chất nổ lỏng lên phi cơ.Bây giờ chúng ta không được đem theo nước uống. Ông nói ông đang đợi một tên đổ chất nổ vào quần lót,thì lập tức an ninh sẽ yêu cầu mọi người cởi hết quần áo.
Những hành động đó chỉ là phản ứng thôi.
3-Chúng ta chỉ lưu tâm an ninh khi mọi người đi vào cổng.Aviv nói rằng trong tương lai nếu một tên khủng bố nhằm vào phi trường,chúng sẽ lợi dụng lúc đông người ở chổ mọi người đang check in.Thật dể dàng cho một người xách 2 hành lý chất nổ, đi thẳng vào hàng chờ check-in và nói với người đứng gần làm ơn để ý dùm hành lý của chúng vài phút để đi tiểu hay đi mua nước uống, rồi làm nổ tung hành lý trước khi nhân viên an ninh đến. Ơ Do Thái những hành lý được kiểm soát trước khi vào phi trường.
Aviv nói rằng cuộc khủng bố sắp tới ở Hoa Kỳ quá rõ ràng và sẽ đánh bom tự sát và đánh bom không tự sát ở những nơi có nhiều người tụ tập.(ví như Disneyland,Casino Las vagas,thành phố New York,San Francisco,Chicago v.v….)cùng các shopping mall,tầu điện ngầm trong giờ cao điểm,ga xe lửa v.v… cũng như các vùng thôn quê (Wyoming,Montana…)
Tấn công sẽ đồng loạt phá hủy khắp nơi(quân khủng bố muốn có tác dụng lớn), liên quan ít nhất 5-8 thành phố bao gồm luôn cả thôn quê.
Aviv nói những tên khủng bố sẽ không cần đánh bom tự sát trong các thành phố lớn,bởi vì những nơi như MGM GRAND ở Las Vagas,chúng chỉ đơn giản đậu xe bằng Valet với xe chở đầy bom và sau đó biến mất dạng.
Aviv nói những tình huống trên đều được biết tường tận trong ngành tình báo,nhưng chính quyên không muốn báo động cho dân chúng biết sự thật.Thế giới sẽ trở thành “một nơi xa lạ”nhanh chóng và những vấn đề như ‘điạ cầu hâm nóng’ và sửa đổi đường lối trở thành vô nghĩa.
Trên một ghi chú đặc biệt, ông nói người Mỹ không phải lưu tâm đến nguyên tử.Aviv nói những tên khủng bố muốn tiêu diệt Mỹ sẽ không dùng những vũ khí tinh vi.Chúng thích dùng bom tự sát.Rẻ tiền,dễ dàng,hiệu quả và chúng có nhiều bật tận những thanh niên tình nguyện tự sát để được về với nơi mong ước của họ.
Ông cũng nói trong những khủng bố tới sẽ không đến từ các nước ngoài.Nhưng sẽ là những người lớn lên tại Mỹ đã từng đi học và được giáo dục tại các Trường trung Đại học ở đây. Ông nói hãy để ý những “sinh viên” hay đi qua về Trung Đông,những người khủng bố trẻ này rất nguy hiểm bởi vì chúng biết nói tiếng Anh và hiểu biết thói quen của người Mỹ.Nhưng chúng ta lại không biết không hiểu gì về chúng nó.
Aviv nói rằng người Mỹ không chuẩn bị và không được huấn luyện về những đe dọa khủng bố mà chúng ta phải đương đầu không tránh được.Nước Mỹ vẫn còn có nhiều người nói tiếng Arabic va Farsi trong hệ thống tình báo và Aviv nói chúng ta phải khẩn thiết thay đổi thực trạng ngay.
Vì vậy,làm sao nước Mỹ tự bảo vệ được ? Trong ngành tình báo,Aviv khuyên Hoa Kỳ nên ngưng ngay sự trông cậy vào vệ tinh và các kỷ thuật tình báo.Thay vào đó chúng ta cáh§n theo phương cách của Do Thái,Ireland và nước Anh những thí dụ điển hình về tình báo nhân dân.Cả hai từ sự thanh lọc rỏ ràng cũng như tin cậy vào những người dân am hiểu .Chúng ta cần phải chú tâm và tự giáo dục mình.tuy nhiên chính quyền tiếp tục xem chúng ta như con nít.Chính quyền nghĩ rằng chúng ta không có thể giải quyết sự thật và nghĩ rằng chúng ta sẽ kinh hải nếu chúng ta hiểu được sự thật của sự khủng bố.Aviv nói đây là một lỗi lầm chết người.
Aviv vừa mới tạo ra một thí nghiệm an ninh mới và đem thử nghiệm cho Quốc hội xem,bằng cách đặt một va li trống không trong 5 địa điểm qua lại đông đúc trong 5 thành phố lớn.Kết quả ? Không lấy một người gọi 911 hay tìm một người Cảnh sát để tìm sự thật,trong thành phố Chicago,một người lại lấy cắp vali.
Làm sự so sánh,Avis nói rằng dân Do Thái được huấn luyện rất kỷ khi thấy một bịch hay gói đồ không có chủ lập tức tri hô lên cho mọi người biết “Một bao không có chủ”, dân chúng lập tức chạy tản ra khỏi chổ đó.Nhưng ở Mỹ thì trái lại,vì chưa thấm đòn bởi khủng bố nhiều nên chính quyền chưa hoàn toàn hiểu rỏ cần phải dạy dổ dân chúng hay chính quyền phải hiểu rằng thường dân sẽ là những người tuyến đầu tốt nhất để chống trả lại sự khủng bố không thể tránh được.
Aviv cũng quan tâm về số lớn trẻ con ở đây đang học ở các trường mẩu giáo hay tiến mẩu giáo sau 9/11 đã lạc lỏng vì không có cha mẹ có thể đến dem con cái về nhà,và trường học chúng ta đã không có kế hoạch tại chổ để săn sóc các học sinh cho đến khi cha mẹ có thể đến trường đón chúng. Ơ New York dẵ xảy ra một vài trường hợp).
Ông nhấn mạnh phải có kế hoạch là điều cần thiết,có sự thông cảm với gia đình, để phản ứng trong trường hợp bị khủng bố. Ông khuyên cha mẹ hảy tiệp xúc với con em ở trường và yêu cầu ngược lại từ các trường.Phát triển kế hoạch hành động như ở Do Thái đang làm.
Gia đình bạn sẽ phải làm gì khi bạn không thể gọi nhau bằng phone ?Bạn tụ tập ở đâu trong trương hợp khẩn cấp?
Ông nói chúng ta nên có tất cả kế hoach thật đơn giản cho các con em chúng ta nhớ và thi hành.
Aviv nói rằng chính quyền Mỹ có kế hoạch bắt buột,trong trường hợp khủng bố tấn công khác,sẽ lập tức cắt hết mọi khả năng trong việc dùng cell phone,blackberries v.v…,đây là phương tiện liên lạc thích hợp của quân khủng bố và bọn chúng thường dùng đế nổ bom.
Làm thế nào bạn liên lạc được với người thân khi xảy ra ?
Bạn cần có một kế hoạch.
Nếu bạn tin tuởng những gì bạn vừa đọc,vậy bạn nên gởi email đến mọi người làm cha mẹ,thủ hộ, ông bà,cô chú và bất cứ ai.Sẽ không có chuyện gì xảy tới cho bạn nếu bạn chọn lựa không chuyển đi,nhưng khi biến cố xảy tới,email này sẽ ám ảnh bạn.”Tôi nên gởi email này đến…” nhưng tôi đã không tin và đã xoá bỏ nó .
|
|
|
|
|
|
 |
    |
 |
dodom

Joined: 28 Nov 2008
Posts: 717

|
|
Lòng Dân hơn Ý Ðảng
Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần vừa qua, Dân Biểu Cao Quang Ánh là người Việt Nam nổi tiếng nhất ở nước Mỹ. Các đài truyền hình liên tục loan tin và phỏng vấn ông. Một người bạn ở xa điện thoại hỏi “Joseph Cao có phải là người Việt hay không?” Khi biết ông đúng là người Mỹ gốc Việt Nam, chị vui mừng gọi điện thoại cho các con để chia sẻ niềm vui với cả gia đình.
Ông Cao Quang Ánh là dân biểu duy nhất thuộc đảng Cộng Hòa đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế ở Hạ Viện. Hầu hết thư độc giả gửi đến Người Việt đều khen ngợi ông là người can đảm và tỏ ý hãnh diện về một người Việt Nam như ông, mặc dù đa số người Việt ở Mỹ nghiêng về phía Cộng Hòa. Một độc giả đặt câu hỏi: Tại sao Dân Biểu Cao Quang Ánh không đổi sang đảng Dân Chủ cho rồi, khi ông bỏ phiếu ngược lại với tất cả các dân biểu khác cùng đảng? Có lẽ nhiều người Việt ở trong nước cũng đặt câu hỏi như vậy, vì không quen thuộc với nếp sống chính trị ở Mỹ.
Trả lời câu hỏi của các nhà báo, ông Cao Quang Ánh giải thích rằng ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế vì dự luật đó cần thiết cho đại đa số dân chúng trong đơn vị đã bầu ông làm đại diện. Ðây là lý do giản dị nhất, và rất đáng suy nghĩ.
Ở nước Mỹ, các đại biểu dân cử thường thuộc một trong hai đảng, Cộng Hòa và Dân Chủ. Họ chia sẻ với đảng mình những giá trị căn bản, thể hiện qua các chủ trương, đường lối trị quốc. Nhưng khi đắc cử, các dân biểu là đại biểu của người dân trong địa hạt, các nghị sĩ là đại biểu của người dân trong tiểu bang. Họ không là đại biểu của một đảng chính trị.
Ở mỗi viện Quốc Hội mỗi đảng có guồng máy điều hợp công tác thảo luận và bảo đảm việc bỏ phiếu của các đại biểu phù hợp với chủ trương của đảng. Guồng máy đó gồm người trưởng khối đa số hoặc thiểu số, có người phụ tá trưởng khối (nghị trường Mỹ gọi là whip) lo việc điều động, theo dõi, thảo luận, khuyến cáo và nhiều khi phải ép buộc các đại biểu thuộc đảng mình bỏ phiếu theo ý chung của đảng. Trước khi các đại biểu mỗi viện họp khoáng đại, ban lãnh đạo trong mỗi viện thường họp với họ để thông qua quyết định chung; người phó trưởng khối có bổn phận đếm cho đủ số phiếu cần thiết để ủng hộ hoặc bác bỏ một dự luật, theo đường lối chung đó.
Tuy nhiên, điều lệ các đảng chính trị ở Mỹ không bắt buộc các đại biểu phải luôn luôn biểu quyết theo chủ trương của ủy ban lãnh đạo toàn quốc. Các đại biểu khi chọn lựa bỏ phiếu trong nghị trường cũng không nhất thiết phải theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng mình trong mỗi viện.
Những nhà chính trị Mỹ gia nhập một đảng vì nhu cầu đoàn kết với những người cùng quan điểm với mình, nhưng nhiều khi họ chỉ chia sẻ một số lớn các giá trị và quan điểm, chứ không phải tất cả mọi chủ trương, đường lối của nhau. Ðó cũng là đặc tính của các cử tri của Mỹ khi họ ghi danh thuộc một đảng nào trong danh sách cử tri. Thí dụ một người Mỹ quyết định bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa vì ủng hộ chủ trương chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, nhưng có thể vẫn bất đồng ý kiến với đảng đó trong chủ trương về vấn đề di dân lậu vào nước Mỹ hoặc về môi trường sống. Cử tri này coi các giá trị về đạo lý khiến phải chống phá thai là quan trọng, còn ý kiến về vấn đề di dân hoặc sinh môi có thể tạm bỏ qua, cho nên vẫn bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa.
Các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Họ có thể chia sẻ 70%, 80% các đường lối của đảng nào thì gia nhập đảng đó, chứ không nhất thiết phải đồng ý 100%. Cho nên, khi bỏ phiếu họ có thể cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau chứ không nhất thiết chỉ làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng. Mặc khác, những người gia nhập một đảng không cần phải đưa tay tuyên thệ trung thành và vâng lệnh cấp trên, như các băng đảng du đãng hoặc mafia! Họ vẫn là những người tự do sống trong một xã hội tự do! Họ quyết định lá phiếu theo phán đoán riêng, theo tiếng gọi của lương tâm, và nhất là theo nguyện vọng cùng quyền lợi của các cử tri bầu cho họ.
Vì vậy, Nghị Sĩ John McCain thuộc đảng Cộng Hòa đã từng bỏ phiếu chống lại dự luật cắt giảm thuế của nguyên Tổng Thống George W. Bush cùng đảng; Nghị Sĩ Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ thì bỏ phiếu ủng hộ quyết định tấn công Iraq của ông tổng thống thuộc đảng khác mình. Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng quyết định giống như vậy khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế tại Hạ Viện Mỹ. Ông chống phá thai, theo niềm tin của ông vào giá trị con người. Nhưng ông biết dự luật cải tổ y tế có thể đem lại những lợi ích lớn cho dân chúng trong đơn vị đã bầu ông. Vì đa số họ là những người nghèo không được hưởng những lợi ích của các chương trình bảo hiểm tư. Là đại biểu của họ tại Quốc Hội, ông phải làm theo ý nguyện của các cử tri đã ủy nhiệm cho mình, dù khi bỏ phiếu năm 2008 có nhiều người không ủng hộ ông. Khi đa số các đại biểu ở Hạ Viện đã bỏ phiếu thông qua dự luật của Dân Biểu Stupak không cho phép dùng công quỹ để trợ giúp những vụ phá thai, trong chương trình bảo hiểm y tế công cộng cũng như bảo hiểm tư, một vấn đề lương tâm của ông Cao Quang Ánh đã được giải quyết. Và khi đó, ông chỉ còn một lựa chọn, là làm theo nguyện vọng của cử tri.
Hành động của Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng tương tự như của 37 dân biểu thuộc đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống dự luật cải tổ y tế. Phần lớn những người này đại diện cho các đơn vị bầu cử mà đa số dân chúng rất bảo thủ, trong đó có nhiều đơn vị đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị Sĩ John McCain trong cuộc bầu cử năm ngoái. Những người dân này tin tưởng vào nhiều giá trị mà đảng Cộng Hòa vẫn đề cao. Thí dụ, niềm tin vào thị trường tự do và chống các hành động can thiệp của chính phủ vào các quyết định kinh tế của tư nhân khiến họ rất nghi ngại trước ý kiến thiết lập một chương trình y tế công cộng. Thí dụ khác, những người bảo thủ về tài chánh thì chống cảnh ngân sách khiếm hụt, cho nên cũng lo ngại khi thấy chương trình cải tổ bảo hiểm y tế của đảng Dân Chủ quá tốn kém. Trước các mối lo ngại của đa số cư tri như vậy, 37 đại biểu đảng Dân Chủ đã không ngần ngại bỏ phiếu chống lại đảng của họ.
Các đại biểu Quốc Hội ở các nước có tự do bầu cử đều phải làm theo nguyện vọng của dân, chứ không làm theo chỉ thị của đảng. Họ phải dùng quyền lực của một dân biểu để tranh đấu cho những nhu cầu thiết thực của người dân đã tín nhiệm mình, trong bất cứ trường hợp nào. Trước ngày Hạ Viện bỏ phiếu, Tổng Thống Barack Obama đã tới Quốc Hội để vận động các đại biểu thuộc đảng Dân Chủ ủng hộ ông. Ông đã phải gọi điện thoại riêng cho Dân Biểu Cao Quang Ánh để xin phiếu, vì không biết chắc có bao nhiêu người thuộc đảng Dân Chủ sẽ bỏ phiếu thuận. Ðồng thời ông Obama cũng muốn chương trình cải tổ y tế của ông không phải chỉ do một đảng Dân Chủ quyết định mà có sự tham dự của cả đảng Cộng Hòa, dù chỉ có được một người là ông Cao Quang Ánh.
Không phải lúc nào một vị dân biểu ở Mỹ được vị tổng thống gọi điện thoại trực tiếp “xin phiếu.” Nhân cơ hội đó, Dân Biểu Cao Quang Ánh đã buộc ông tổng thống Mỹ phải nhượng bộ ông mấy điều trong các dự án khác có lợi cho dân chúng trong đơn vị của mình. Ông Cao Quang Ánh đã yêu cầu chính phủ liên bang Mỹ phải giúp việc xây dựng lại bệnh viện trong đơn vị của ông, và miễn cho người dân vùng New Orleans khỏi phải hoàn trả các món nợ tái thiết sau cơn bão Katrina. Ðiều này chứng tỏ ông Cao Quang Ánh đã “thuộc bài” chính trị ở nghị trường nước Mỹ, bất cứ cơ hội nào cũng dùng quyền lực lá phiếu của mình để tranh đấu cho quyền lợi của dân. Ông Cao Quang Ánh biết rằng năm ngoái ông may mắn đắc cử vì người đại biểu cũ của đơn vị này bị mang tiếng về tham nhũng, và ngay trong đảng Dân Chủ của ông ta cũng nhiều người tranh cử chống lại nên chia phiếu. Ðó là một đơn vị lâu nay vẫn chỉ bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, ông Cao Quang Ánh là đại biểu Cộng Hòa đầu tiên. Ông Cao Quang Ánh không biết là sang năm 2010 ông còn được tái cử nữa hay không. Nhưng khi đã mang danh đại biểu Quốc Hội của một địa hạt thì ông nhất định làm những điều phải và phục vụ cho các cử tri trong địa hạt của mình. Ðó là điều mọi người Việt Nam có thể hãnh diện về ông.
Ðây là một bài học về đời sống dân chủ tự do mà rất tiếc đồng bào chúng ta ở Việt Nam không được thấy trực tiếp. Các đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam thường không bao giờ theo ý kiến của dân mà bỏ phiếu chống lại các quyết định của chính phủ Cộng Sản. Vì chính họ được đảng Cộng Sản đưa ra ứng cử, họ được đắc cử là nhờ đảng. Họ là đại biểu của đảng Cộng Sản chứ không đại diện cho dân. Chế độ độc tài nào cũng như vậy! Chỉ khi chế độ Cộng Sản Việt Nam bị sụp đổ như ở Ðông Âu 20 năm trước đây thì mới có thể thấy những tấm gương can đảm như ông Cao Quang Ánh.
|
|
|
|
|
|
| |
    |
 |
|
|
Goto page Previous 1, 2, 3 ... 59, 60, 61, 62 Next
|
View next topic
View previous topic
You cannot post new topics in this forum You cannot reply to topics in this forum You cannot edit your posts in this forum You cannot delete your posts in this forum You cannot vote in polls in this forum You cannot attach files in this forum You cannot download files in this forum
|
All times are GMT
16262 Attacks blocked
|